Thứ Năm, 26 tháng 4, 2018

Tâm hồn tôi, tôi muốn nhúng

Heinrich Heine (1797-1856)

 © Sinaida J. Serebrjakowa: Nữ họa sĩ Nga

Tâm hồn tôi, tôi muốn nhúng
Vào lòng bông tới đài hoa
Hoa ly hãy thoáng ngân xa
Một khúc về người yêu dấu.

Bài ca cần rung, chấn động
Như chiếc hôn tự làn môi
Xưa kia em từng trao gửi
Tôi trong giờ ngọt tuyệt vời.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Ich will meine Seele tauchen

Heinrich Heine (1797-1856)

Ich will meine Seele tauchen
In den Kelch der Lilje hinein;
Die Lilje soll klingend hauchen
Ein Lied von der Liebsten mein.

Das Lied soll schauern und beben
Wie der Kuß von ihrem Mund,
Den sie mir einst gegeben
In wunderbar süßer Stund.

Một bản tiếng Anh:

I want to plunge my soul

Heinrich Heine (1797-1856)

I want to plunge my soul
into the chalice of the lily;
the lily shall resoundingly exhale
a song of my beloved.

The song shall quiver and tremble,
like the kiss from her mouth,
that she once gave me
in a wonderfully sweet hour!

Chú thích của người dịch:


Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

Tranh của Sinaida Jewgenjewna Serebrjakowa (Зинаи́да Евге́ньевна Серебряко́ва (1884-1967): Nữ họa sĩ Nga, đại diện của phái Ấn tượng, từ 1924 sống lưu vong tại Pháp. Sau khi bà mất, một phần tác phẩm được đưa trở về Liên Xô.

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018

Mùa xuân lạ thường

Georg Trakl (1887 - 1914)   

Tranh © Ernst Ludwig Kirchner (1880-1938): Họa sĩ Đức

Vừa vặn giữa trưa ngày sâu thẳm
Tôi đã nằm trên hòn đá cổ xưa
Đứng trước tôi, trong áo choàng tuyệt đẹp
Ba thiên thần trong ánh nắng trưa.

Ôi năm xuân đủ đầy dự cảm
Trên đồng tan bụm tuyết cuối cùng
Lọn tóc bạch dương đã phất phơ rung
Trong hồ nước lạnh và trong vắt.

Từ trời cao xõa dải băng xanh biếc
Một đám mây đẹp đẽ chảy trôi vào
Tôi nằm mơ mộng hướng mây cao
Những thiên thần quì trong ánh nắng.

Một con chim ca vang cổ tích
Bỗng một lần người hiểu được tiếng chim:
- Trước lúc thỏa niềm khao khát đầu tiên
Anh phải chết, phải đi vào cõi chết!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Wunderlicher Frühling

Georg Trakl (1887 - 1914)

Wohl um die tiefe Mittagszeit,
Lag ich auf einem alten Stein,
Vor mir in wunderlichem Kleid
Standen drei Engel im Sonnenschein.

O ahnungsvolles Frühlingsjahr!
Im Acker schmolz der letzte Schnee,
Und zitternd hing der Birke Haar
In den kalten, klaren See.

Vom Himmel wehte ein blaues Band,
Und schön floß eine Wolke herein,
Der lag ich träumend zugewandt –
Die Engel knieten im Sonnenschein.

Laut sang ein Vogel Wundermär,
Und könnt mit einmal ihn verstehn:
Eh‘ noch gestillt dein erst‘ Begehr,
Mußt sterben gehn, mußt sterben gehn!


Chú thích của người dịch:

Georg Trakl (1887 - 1914): Người Áo, nhà thơ nổi tiếng của Chủ nghĩa Biểu hiện Đức, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Tượng trưng, được coi là nhà thơ viết bằng tiếng Đức xuất sắc nhất cùng với Rainer Maria Rilke ở đầu thế kỷ 20.
Tòan bộ thi phẩm của ông mang dấu ấn của hòai cảm, u sầu và hướng tìm Thiên Chúa. Có thể kể Cái chết, Suy đồi và sự Suy tàn của Tây Phương như những hàm ý chính ở thơ trữ tình sâu xa của Georg Trakl đầy những biểu tượng và ẩn dụ.

„ Hồ như không thể định vị tác phẩm thơ của ông một cách rõ rệt theo lịch sử văn học nội trong văn chương của thế kỷ 20“ (Wikipedia)

Đôi nét tiểu sử: Georg Trakl, con thứ năm trong gia đình tư sản khá giả có bảy con. Cha có cửa hàng khóa, mẹ khó tính với các con, nghiện ma túy. Georg Trakl trải qua thời niên thiếu tại Salzburg* 1897 – 1905 Học xong trung học, được coi là học trò kém (ở các môn tiếng Latinh, Hy Lạp và Tóan), không đỗ tú tài * 1908 Qua kỳ Thực tập, để nghiên cứu 4 học kỳ ngành dược* 1910 Học xong bằng y sĩ * Khi thế chiến I bùng nổ, ông tham gia mặt trận với chức vụ y sĩ quân đội. * Ngày thêm trầm cảm, trải qua trận đánh vùng Grodek ông bị suy sụp thần kinh. *1914 Chết (tự sát) trong một nhà thương quân đội ở Krakow sau khi dùng cocain quá liều.

Tranh của Ernst Ludwig Kirchner (1880-1938, tự sát): Họa sĩ nhà độ họa, thành viên nhóm Cây cầu, là một đại diện quan trọng nhất của chủ nghĩa Biểu hiện Đức. Năm 1937 chính quyền Quốc xã, xếp tác phẩm ông vào danh sách „suy đồi“, đã bán và phá hủy 600 tác phẩm của ông.

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2018

Lá úa

Hermann Hesse (1877-1962)  

Tranh © Alix Aymé (1894- 1989): Nữ họa sĩ Pháp

Từng bông đều muốn được kết trái
Mỗi sáng thành tựu một ban đêm
Trên địa cầu không gì vĩnh cửu
Hơn chạy trốn và sự biến thiên

Cả mùa hạ đẹp nhất muốn được
Một lần cảm mùa thu và úa tàn
Dừng lại lá, hãy lặng lẽ kiên gan
Nếu gió muốn bắt cóc mi đi mãi.

Hãy chơi trò của mi, và đừng cưỡng lại
Hãy để cuộc chơi lặng lẽ xảy ra
Hãy để gió, bẻ mi lìa nhánh,
Thổi cuốn mi bay trở lại nhà.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Welkes Blatt

Hermann Hesse (1877-1962)

Jede Blüte will zur Frucht,
Jeder Morgen Abend werden,
Ewiges ist nicht auf Erden
Als der Wandel, als die Flucht.

Auch der schönste Sommer will
Einmal Herbst und Welke spüren.
Halte, Blatt, geduldig still,
Wenn der Wind dich will entführen.

Spiel dein Spiel und wehr dich nicht,
Laß es still geschehen.
Laß vom Winde, der dich bricht,
Dich nach Hause wehen.

Chú thích của người dịch:

Hermann Hesse: (Hermann Karl Hesse, cũng dưới bút danh Emil Sinclair, 1877 - † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói đồng hoang) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.

Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.


Tác phẩm:
Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ
Văn xuôi:
– Peter Camenzind (Peter Camenzind, 1904), tiểu thuyết
– Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết
– Siddhartha (Siddhartha, 1920), tiểu thuyết
– Sói đồng hoang (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết
– Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết
– Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.

Tranh của Alix Aymé (Alix Angèle Marguerite Aymé, 1894- 1989): Nữ họa sĩ danh tiếng người Pháp, từng giảng dạy ở Lycée Albert-Sarraut và Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương.

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2018

Trên chiếc bàn của mình tôi muốn kết

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

©Paula Modersohn-Becker (1876-1907): Nữ hs Đức
Trên chiếc bàn của mình tôi muốn kết

những bông hoa hồng đỏ tía màu
và đắm mình dưới gốc cây đoan
tìm thấy đâu đó một cô gái
tóc vàng, thông tuệ, mơ màng.


Tôi muốn nắm hai bàn tay cô bé
muốn được trước đứa trẻ quì chân
cho hôn lên miệng tôi
nhợt nhạt vì nhung nhớ,
bởi đôi môi vốn chính là mùa xuân.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Purpurrote Rosen binden

möcht ich mir für meinen Tisch
und, verloren unter Linden,
irgendwo ein Mädchen finden,
klug und blond und träumerisch.

Möchte seine Hände fassen,
möchte knieen vor dem Kind
und den Mund, den sehnsuchtblassen,
mir von Lippen küssen lassen,
die der Frühling selber sind.

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Paula Modersohn-Becker (1876-1907): Nữ họa sĩ Đức, đại diện quan trọng thời Tiền Biểu Hiện trong Hội họa Đức.

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2018

Trong ánh trăng ngự yên biển cả

Heinrich Heine (1797-1856)

Tranh ©Emil Nolde (1867– 1956): Họa sĩ Đức

Trong ánh trăng ngự yên biển cả
Những con sóng thầm thĩ êm đưa
Tim tôi sợ hãi và trĩu nặng
Tôi ngẫm về điệu hát cổ xưa

Bài ca cổ hát cho ta biết
Về những thành phố mất còn đâu
Nơi còn vang lên từ đáy biển
Tiếng chuông ngân và tiếng nguyện cầu -

Chuông ngân và kinh cầu, biết chứ
Chẳng ích chi cho những thị thành
Bởi những gì từng chôn lấp một lần
Cái đó không thể nào trở lại.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Im Mondenglanze ruht das Meer

Heinrich Heine (1797-1856)

Im Mondenglanze ruht das Meer,
Die Wogen murmeln leise;
Mir wird das Herz so bang und schwer,
Ich denk der alten Weise,

Der alten Weise, die uns singt
Von den verlornen Städten,
Wo aus dem Meeresgrunde klingt
Glockengeläut und Beten –

Das Läuten und das Beten, wißt,
Wird nicht den Städten frommen,
Denn was einmal begraben ist,
Das kann nicht wiederkommen.

Chú thích của người dịch:


Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

Tranh của Emil Nolde (7. 8. 1867 – 13. 4. 1956): Một trong những đại diện phái Biểu hiện Đức, và được coi là một trong những họa sĩ sơn dầu và màu nước xuất sắc của thế kỷ 20.

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

Tim tôi, tim tôi buồn bã

Heinrich Heine (1797-1856)  

Tranh© Tina Blau-Lang (1845-1916): Nữ họa sĩ Áo

Tim tôi, tim tôi buồn bã
Mà tháng Năm rạng vui cười
Tôi đứng thẳng người tựa gốc
Cây đoan trên ụ pháo đài.

Dưới đó dòng xanh hào lũy
Trôi trong lặng lẽ bình yên
Một cậu bé chở con thuyền
Đang buông câu và huýt sáo.

Bên kia nhô lên bé xíu
Dáng vẻ sặc sỡ, tưng bừng
Lầu khách, con người, vườn tược
Bò bê, thảm cỏ, cánh rừng.

Các nàng hầu gột rũ áo
Và nhảy trên cỏ bờ mương
Bánh xe nước rắc kim cương
Tôi nghe rì rào xa vắng.

Bên ngọn tháp già màu xám
Một chòi vọng gác đứng yên
Một cậu choai choàng áo đỏ
Hết đi xuống lại đi lên.

Gã giỡn chơi với khẩu súng
Lóe lên đỏ ánh mặt trời
Bồng súng, nhô vai - Tôi muốn
Gã bắn mình chết quách thôi.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

 
Mein Herz, mein Herz ist traurig


Heinrich Heine (1797-1856)

Mein Herz, mein Herz ist traurig,
Doch lustig leuchtet der Mai;
Ich stehe, gelehnt an der Linde,
Hoch auf der alten Bastei.

Da drunten fließt der blaue
Stadtgraben in stiller Ruh;
Ein Knabe fährt im Kahne,
Und angelt und pfeift dazu.

Jenseits erheben sich freundlich,
In winziger, bunter Gestalt,
Lusthäuser, und Gärten, und Menschen,
Und Ochsen, und Wiesen, und Wald.

Die Mägde bleichen Wäsche,
Und springen im Gras herum;
Das Mühlrad stäubt Diamanten,
Ich höre sein fernes Gesumm.

Am alten grauen Turme
Ein Schilderhäuschen steht;
Ein rotgeröckter Bursche
Dort auf und nieder geht.

Er spielt mit seiner Flinte,
Die funkelt im Sonnenrot,
Er präsentiert und schultert -
Ich wollt, er schösse mich tot.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.


Tranh của Tina Blau-Lang (1845-1916): Nữ họa sĩ vẽ phong cảnh nổi tiếng thuộc phái Phong cách trẻ Vienna.

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2018

Phố Tháp Đồng Hồ

Phạm Kỳ Đăng
Tranh ©® Lesser Ulry (1861-1931): Họa sĩ Đức

Lần tìm về khu phố Tháp đồng hồ
Những mái đỏ dịu mắt trong sương sớm
Chiều sậm tím. Chót lần đèn hiện
Người trên đường chẳng rõ bước đi đâu.

Lanh lảnh cười, hội vũ trà lâu
Họ vui đấy. Còn em mải miết

Ráo hoảnh, cộc cằn lời người từ biệt
Lá rào rơi, lòng tan nát vai rung
Giã từ đây, giọng chì chiết lạnh lùng
Cắm cổ bước, cự lời ruồng rẫy.

Bên bách thảo ướt nhèm chân chạy

Đường sặc sương tru tréo rợn người,
Động đàn la, chồm ngược chồm xuôi,
Trăng nhờ sáng trong men răng của sói.

Bao năm qua lở lói đường không gội

Tay gỗ khóa phên: cấm cửa sân ga
Một đám mây vắt khắp các mái nhà

Bàng bạc trắng như vành khăn để trở.
Dưới mái tối ngập ngừng nhiều khách trọ
Dáng người tình lặng lẽ. Đóa hồng đen.

Em ơi em phố ấy mãi chôn đèn
Vì để chết mối tình em đó.


©® P.K.Đ 1988-1989 – Mê Ca

Tranh của Lesser Ulry (1861-1931): Họa sĩ Đức phái Ấn tượng (Impressionism)

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...