Thứ Ba, 28 tháng 6, 2022

Đức Phật

Rainer Maria Rilke (1875-1926)    




Dường như Đức Phật lắng nghe. Tĩnh lặng: xa một cõi
Chúng ta dừng và nào nghe thấy nữa đâu.
Và ngài là một tinh tú. Và những ngôi sao
lớn khác ta không thấy, vây quanh Đức Phật.

Ôi Ngài là toàn thể. Thực vậy chăng, ta đợi
có như Ngài thấy chúng ta? Ngài có thiết chăng
và nếu trước ngài đây chúng ta sụp xuống chân.
Ngài trầm mặc và uể oải như một con thú.

Rồi chi kéo ta xuống chân ngài, là thứ
Tuần vận trong ngài hàng triệu năm qua.
Ngài, người quên thảy những gì ta nghiệm trải
Và chứng nghiệm, điều chi dạy răn ta.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Buddha

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Als ob er horchte, Stille: eine Ferne ...
Wir halten ein und hören sie nicht mehr.
Und er ist Stern. Und andre großen Sterne,
die wir nicht sehen, stehen um ihn her.

O er ist Alles. Wirklich, warten wir,
daß er uns sähe? Sollte er bedürfen?
und wenn wir hier uns vor ihm niederwürfen,
er bliebe tief und träge wie ein Tier.

Denn alles, was uns zu seinen Füßen reißt,
das kreist in ihm seit Millionen Jahren.
Er, der vergißt was wir erfahren
und der erfährt was uns verweist.

1905

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Claude Monet /1840-1926): Họa sĩ tiêu biểu của phái Ấn tượng Pháp.

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

Yêu

Rainer Maria Rilke (1875-1926)    



V

Em còn nhớ anh mang cho em những trái táo
và lanh lẹ, khẽ chải cho em mớ tóc óng vàng?
Nhớ không em, xưa kia, anh còn thích cười vang
và khi đó em còn là đứa trẻ.

Rồi anh trở nên nghiêm nghị. Trong tim anh cháy bỏng
một hy vọng non nớt và một niềm cũ ưu phiền...
Có một lần cô gia sư dạo đó,
đã nhấc cuốn „Chàng Werther“ (1) khỏi tay em.

Mùa xuân gọi. Anh hôn em lên má,
mắt em mở to nhìn anh và chăm chú dịu dàng.
Đó là ngày chủ nhật. Xa vọng chuông vang
và qua rừng thông ánh sáng đèn le lói…

VI

Anh và em- ngồi chìm trong suy nghĩ
cả hai trong trời nho lá ánh chiều tà,
trong những khóm leo hương ngát, trên đầu ta
một con ong nghệ vo vo đâu im tiếng.

Phản xạ dừng, những vòng tròn nhiều sắc
thoáng đứng dừng trên mái tóc em...
Một lần anh, không gì khác, thốt lên:
„Em có đôi mắt sao tuyệt đẹp.“

VII

Mái tóc vàng sau ô cửa kính
nhô lên thanh tú làm sao,-
Sao chiếu bụi quần tinh đẩu
hay tới lòng tôi soi vào?

Có phải mái đầu thương mến
đã ghim giữ chặt lòng tôi,
hay bụi ùn ùn tinh tú
kia trong thế giới nắng trời?

Không ai ngó sang bên cả
Kín đáo, chiều đêm diễu qua,
vầng trán bình thản…Còn ta?
Đôi ta ngắm nhìn chiều xuống.-

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Lieben

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

V

Ob du's noch denkst, dass ich dir Äpfel brachte
und dir das Goldhaar glattstrich leis und lind?
Weisst du, das war, als ich noch gerne lachte,
und du warst damals noch ein Kind.

Dann ward ich ernst. In meinem Herzen brannte
ein junges Hoffen und ein alter Gram ...
Zur Zeit, als einmal dir die Gouvernante
den "Werther" aus den Händen nahm.

Der Frühling rief. Ich küsste dir die Wangen,
dein Auge sah mich gross und selig an.
Das war ein Sonntag. Ferne Glocken klangen,
und Lichter gingen durch den Tann ...

VI

Wir sassen beide in Gedanken
im Weinblattdämmer - du und ich -
und über uns in duftgen Ranken
versummte wo ein Hummel sich.

Reflexe hielten, bune Kreise,
in deinem Haare flüchtig Rast ...
Ich sagte nichts als einmal leise:
"Was du für schöne Augen hast."

VII

Blondköpfchen hinter den Scheiben
hebt es sich ab so fein, -
sternt es ins Stäubchentreiben
oder zu mir herein?

Ist es das Köpfchen, das liebe,
das mich gefesselt hält,
oder das Stäubchengetriebe
dort in der sonnigen Welt?

Keins sieht zum andern hinüber.
Heimlich, die Stirne voll Ruh
schreitet der Abend vorüber ...
Und wir? Wir sehn ihm halt zu. -

Chú thích của người dịch:

(1) "Nỗi đau của chàng Werther", cuốn tiểu thuyết của Johann Wolfgang von Goethe.

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Carl Olof Larsson (1853-1919): Họa sĩ người Thụy Điển.

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2022

Yêu

Rainer Maria Rilke (1875-1926)  



III

Một ngày tháng Năm có em ở bên
và sánh đôi ta thả bước lãng quên
qua những hàng lửa hoa bông tỏa hương rực sáng
tới vòm tán của hoa nhài trắng.

Và từ đó nhìn vươn xa xuống sự bừng nở tháng Năm,
mỗi ước ao thầm lặng thế đó trong tâm…
Và một niềm hạnh phúc giữa rạo rực tháng Năm xây đắp chốn
một hạnh phúc lớn, – là vậy đó những gì anh muốn...

IV

Tôi không biết xảy ra sao cơ sự…
Không biết tôi lắng nghe nỗi vui chi,
trái tim tôi như say chuyếnh choáng đi
và nỗi nhớ nhung như là một khúc hát.

Và cô gái của tôi mang máu dòng khoái hoạt
và có mái tóc đầy ánh nắng trời
và đôi mắt của Maria - Đức Mẹ,
còn làm nay điều kỳ diệu không thôi.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Lieben

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

III

Einen Maitag mit dir beisammen sein,
und selbander verloren ziehn
durch der Blüten duftqualmende Flammenreihn
zu der Laube von weißem Jasmin.

Und von dorten hinaus in den Maiblust schaun,
jeder Wunsch in der Seele so still ...
Und ein Glück sich mitten in Mailust baun,
ein großes, – das ists, was ich will ...

IV

Ich weiß nicht, wie mir geschieht ...
Weiß nicht, was Wonne ich lausche,
mein Herz ist fort wie im Rausche,
und die Sehnsucht ist wie ein Lied.

Und mein Mädel hat fröhliches Blut
und hat das Haar voller Sonne
und die Augen von der Madonne,
die heute noch Wunder tut.

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Emil Nolde (1867 – 1956): Họa sĩ biểu hiện Đức.

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2022

trên đấu trường

Martin Jankowski     



những con mắt long lanh
tiếng gầm gừ trong họng
trên cuộc săn lùng
cái trốn chạy

olé cuộc đời
xung quanh bầy
làm ra khá hơn
nhóm mục tiêu
were are the sự tan chảy ban ngày
và ban đêm my friend

tiếng la của người thua cuộc
giọt nước mắt
của thất vọng lã chã trôi tuột
trên thảm cỏ rộng tênh
của bình đẳng.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Chú thích của người dịch:

Martin Jankowski, sinh năm 1965 tại Greifswald: Nhà thơ, nhà văn người Đức, xuất bản nhiều tập thơ, truyện ngắn, tiểu luận, phê bình văn học và một cuốn tiểu thuyết. Tác giả của những tác phẩm được dịch ra 17 thứ tiếng thường xuyên được mời thỉnh giảng tại các trường đại học và tham dự các liên hoan quốc tế. Hiện nay ông chủ trì nhiều dự án văn hóa và các tọa đàm văn chương. Là người sáng lập die Berline Literarische Aktion (Hiệp hội hành động văn chương Berlin) ông chịu trách nhiệm xuất bản tạp chí đa ngôn ngữ stadtsprachen và chỉ đạo loạt chương trình PARATAXE.

Tranh của Pablo Picasso (1881-1973): Họa sĩ, nhà điêu khắc người Tây Ban Nha.

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2022

Tối Noel

Joseph von Eichendorff (1788-1857)  
 


Khu chợ và những phố phường trơ vắng
Từng ngôi nhà đèn thắp sáng choang
Tôi đi qua những con ngõ, nghĩ miên man
Tất cả trông sao trang hoàng khánh lễ.

Những người đàn bà ân cần trang trí
Cửa sổ nhà bằng đồ chơi nhiều màu
Trăm đứa trẻ nghiêng ngó, đứng chầu
Im ắng tuyệt, lòng chúng vui thỏa ước.

Từ dãy tường thành tôi đưa bước
Ra ngoài kia đồng mạch thênh thênh,
Rạng ngời kỳ vĩ, choáng ngợp oai linh!
Như thế giới rộng dài và tĩnh lặng.

Tinh tú ở trên trời cao lắng
Kết vòng từ nỗi tuyết đơn côi
- Vút lên như tiếng hát tuyệt vời
Ôi tạ người cái thời đầy ơn phước!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Weihnachten

Joseph von Eichendorff (1788-1857)

Markt und Straßen stehn verlassen,
Still erleuchtet jedes Haus,
Sinnend geh’ ich durch die Gassen,
Alles sieht so festlich aus.

An den Fenstern haben Frauen
Buntes Spielzeug fromm geschmückt,
Tausend Kindlein stehn und schauen,
Sind so wunderstill beglückt.

Und ich wandre aus den Mauern
Bis hinaus in’s freie Feld,
Hehres Glänzen, heil’ges Schauern!
Wie so weit und still die Welt!

Sterne hoch die Kreise schlingen,
Aus des Schnees Einsamkeit
Steigt’s wie wunderbares Singen –
O du gnadenreiche Zeit!

Chú thích của người dịch:

Joseph von Eichendorff (1788-1857): Nhà thơ và nhà văn quan trọng của trào Lãng mạn Đức.


Merry Christmas - Tranh của Viggo Johansen (1851-1935): Họa sĩ Đan Mạch.

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2022

quả dứa của người sasak

Martin Jankowski   
  


đảo lombok thô nháp như giọng nói người sasak
da sẫm gương mặt họ góc cạnh
những vách tơi tả và mái nhà đổ bóng
những tường bùn trát với những thánh thần rùng rợn

trẻ con sasak biết đến bờ cát mỗi khi thủy triều
dẫn chúng ta qua những đàn trâu và những rặng dừa
một cậu bé mặc quần sooc thủng nói ngôn ngữ của chúng ta
dù cậu không đến trường vì cậu bán dứa và đồ lưu niệm
cho khách nói cậu học của khách du lịch nói mẹ cậu không trả
nổi tiền học hiển nhiên cậu cũng không có tiền mua đồng phục
tuy thế cậu thực khôn ranh bởi lúc này chúng ta muốn cho cậu kiếm
tiền

cậu đi cùng chúng ta tới cảng và gọt cho chúng ta quả dứa
thành thứ bé xíu hầu như không to hơn nắm tay trẻ con nhưng
cậu ta ném cho chúng ta thỏi vàng đầu tiên và cho hương vị
chao sự ngọt ngào hoàn hảo nhất của cuộc đời chúng ta cho tới nay
cậu làm việc vung vẩy con dao thái dài bằng cánh tay

nếu mang tiền về nhà cậu nói
mẹ nấu cho bữa tiệc
cơm trộn sốt ớt sambal

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Chú thích của người dịch:
Martin Jankowski, sinh năm 1965 tại Greifswald: Nhà thơ, nhà văn người Đức, xuất bản nhiều tập thơ, truyện ngắn, tiểu luận, phê bình văn học và một cuốn tiểu thuyết. Tác giả của những tác phẩm được dịch ra 17 thứ tiếng thường xuyên được mời thỉnh giảng tại các trường đại học và tham dự các liên hoan quốc tế. Hiện nay ông chủ trì nhiều dự án văn hóa và các tọa đàm văn chương. Là người sáng lập die Berline Literarische Aktion (Hiệp hội hành động văn chương Berlin) ông chịu trách nhiệm xuất bản tạp chí đa ngôn ngữ stadtsprachen và chỉ đạo loạt chương trình PARATAXE.

Tranh của Alix Angèle Marguerite Aymé (1894 - 1989): Họa sĩ Pháp từng sống và sáng tác ở Việt Nam. Năm 1930 bà dạy Họa tại trường Lycée Albert-Sarraut Hà Nội.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...