Thứ Ba, 22 tháng 12, 2020

DIANA

Heinrich Heine (1797-1856)  


I.
Khối chân tay ấy đẹp xinh
Của vẻ đàn bà đồ sộ
Bây giờ, không hề cãi cọ
Cho tôi tha hồ ước ao.

Nếu tôi bốc lên thèm khát
Xăm xăm tôi lại gần bên,
Tôi đã hối hành vi đó!
Phải, nàng đánh tôi cũng nên.

Ngực, cổ, yết hầu mới thật!
(Tôi không nhìn rõ cao hơn),
Trước khi cùng nàng thổ lộ
Tôi xin dâng Chúa linh hồn.

II.
Ở Bizkaia (1) bên bờ vịnh,
Nàng xưa mở mắt chào đời,
Khi nàng còn ở trong nôi
Bóp chết hai con mèo bé (2).

Để nguyên chân trần chính thế
Băng qua dãy Pyrenees (3).
Ở Perpignan (4) nàng ẩn hiện
Một người khổng lồ nữ nhi.

Nay nàng là bà lớn nhất
Khu Faubourg Saint-Denis (5),
Tốn của Ngài William bé
Những ba nghìn bạc Louis.

III.
Quí Bà kính yêu, tôn quí!
Đôi khi tôi đến thăm Bà,
Tâm trí tôi lan man nhớ
Quảng trường chợ Bologna (6).

Nơi đó một đài phun lớn
Tên là Fonte del Giagante (7),
Bên trên có tượng thần biển
Của Johann (8), thợ cả xưa.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Diana từ chùm Verschiedene (Người muôn vẻ khác) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

DIANA

Heinrich Heine (1797-1856)

I.

Diese schönen Gliedermassen
Kolossaler Weiblichkeit
Sind jetzt, ohne Widerstreit,
Meinen Wünschen überlassen.

Wär ich, leidenschaftentzügelt,

Eigenkräftig ihr genaht,
Ich bereute solche Tat!
Ja, sie hätte mich geprügelt.

Welcher Busen, Hals und Kehle!

(Höher seh ich nicht genau.)
Eh ich ihr mich anvertrau,
Gott empfehl ich meine Seele.

II.

Am Golfe von Biskaya
Hat sie den Tag erblickt;
Sie hat schon in der Wiege
Zwei junge Katzen erdrückt.

Sie lief mit bloßen Füßen

Wohl über die Pyrenän;
Drauf ließ sie als junge Riesin
In Perpignan sich sehn.

Jetzt ist sie die größte Dame

Im Faubourg Saint-Denis;
Sie kostet dem kleinen Sir William
Schon dreizehntausend Louis.

III.

Manchmal, wenn ich bei Euch bin,
Großgeliebte, edle Doña,
Wie erinnernd schweift mein Sinn
Nach dem Marktplatz zu Bologna.

Dorten ist ein großer Brunn,

Fonte del Gigante heißt er,
Obendrauf steht ein Neptun
Von Johann, dem alten Meister.

Chú thích của người dịch:

1) Bizkaia: Một tỉnh thuộc xứ Basque của Tây Ban Nha.

(2) Theo truyền thuyết Herkules khi còn bé đã bóp cổ chết hai con rắn.
Cô gái Heinrich Heine quen ở khu phố ăn chơi có vóc dáng đẫy đà khỏe mạnh mang tên Diana, nữ thần săn bắn đồng thời là nữ thần Mặt Trăng và tượng trưng cho sự sinh sản trong thần thoại Hy Lạp.
(3) Pyrenees: Một dãy núi phía tây nam châu Âu tạo thành đường biên giới tự nhiên giữa Pháp và Tây Ban Nha.
(4) Thị trấn của tỉnh Pyrénées-Orientales, thuộc vùng hành chính Occitanie của nước Pháp.
(5) Một khu phố Paris.
(6) Một thành phố Ý.
(7) Đài phun nước ở Neapel, dựng vào thế kỷ 17.
(8) Johann Ritz (1766-1729): Nhà tạc tượng thời danh người Đức.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:

„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Diana và những nàng hầu – Tranh của Jan Vermeer van Delft (1632-1675): Họa sĩ Hà Lan

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2020

Những suy nghĩ ban đêm

Heinrich Heine (1797 – 1856) 



Trong đêm tối tôi nghĩ về nước Đức,
Cứ giật mình trằn trọc mãi thôi,
Không sao ngủ, mắt trơ trơ chẳng nhắm
Và tuôn bao dòng lệ nóng sôi.

Những năm tháng đến rồi qua mãi,
Từ ngày tôi vắng bóng mẹ yêu thân,
Mười hai năm trôi qua đằng đẵng;
Niềm nhớ nhung đòi hỏi cứ lớn dần.

Nỗi nhớ nhung đòi hỏi cứ lớn dần.
Bà cụ ám ảnh tôi trong mệnh số,
Tôi nhớ nhung bà cụ khôn nguôi,
Ôi bà cụ, cầu lạy trời phù hộ!

Bà cụ hiền thương yêu tôi lắm
Và trong thư bà cụ viết cho tôi,
Tôi nhìn thấy bàn tay bà run rẩy
Tôi đã day trái tim mẹ, hỡi trời.

Mẹ tôi vẫn luôn hiện lên trong trí,
Mười hai năm đằng đẵng trôi qua,
Mười hai năm ròng phôi pha tàn lụi
Từ dạo tôi chẳng được áp ngực bà.

Nước Đức sẽ trường tồn mãi mãi,
Xứ sở đây sức khỏe tuyệt vời
Với những cây sồi, cây đoan lực lưỡng,
Tôi sẽ về thăm lại đấy thôi.

Tôi cũng chẳng quá vội về nước Đức,
Nếu mẹ tôi chẳng ở nơi đây;
Tổ quốc chẳng bao giờ mất được
Bà cụ thì có thể chết đi.

Từ ngày tôi bỏ biệt mảnh đất này,
Bao nhiêu người đã vùi sâu dưới huyệt,
Bấm đốt tay tính những người thân yêu.
Tim tôi rỏ máu nhiều đến chết.

Và không tính sao đây? Với từng con số
Nỗi khổ đau càng dấy mãi trong tôi;
Như người chết đang lăn qua ngực
Phúc đức sao, họ tránh xa rồi!

Phúc đức sao! Từ cửa sổ phòng tôi
Lọt tia sáng rỡ ràng nước Pháp;
Vợ tôi đến, xinh tươi như bình minh
Nụ cười xua những nỗi lo nước Đức.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Những suy nghĩ ban đêm từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới (ND tham khảo bản dịch của Hoàng Trung Thông).

Nguyên tác tiếng Đức:

XXIV. Nachtgedanken

Heinrich Heine (1797 – 1856)

Denk ich an Deutschland in der Nacht,
Dann bin ich um den Schlaf gebracht,
Ich kann nicht mehr die Augen schließen,
Und meine heißen Tränen fließen.

Die Jahre kommen und vergehn!
Seit ich die Mutter nicht gesehn,
Zwölf Jahre sind schon hingegangen;
Es wächst mein Sehnen und Verlangen.

Mein Sehnen und Verlangen wächst.
Die alte Frau hat mich behext,
Ich denke immer an die alte,
Die alte Frau, die Gott erhalte!

Die alte Frau hat mich so lieb,
Und in den Briefen, die sie schrieb,
Seh ich, wie ihre Hand gezittert,
Wie tief das Mutterherz erschüttert.

Die Mutter liegt mir stets im Sinn.
Zwölf lange Jahre flossen hin,
Zwölf lange Jahre sind verflossen,
Seit ich sie nicht ans Herz geschlossen.

Deutschland hat ewigen Bestand,
Es ist ein kerngesundes Land,
Mit seinen Eichen, seinen Linden,
Werd’ ich es immer wiederfinden.

Nach Deutschland lechzt ich nicht so sehr,
Wenn nicht die Mutter dorten wär;
Das Vaterland wird nie verderben,
Jedoch die alte Frau kann sterben.

Seit ich das Land verlassen hab,
So viele sanken dort ins Grab,
Die ich geliebt — wenn ich sie zähle,
So will verbluten meine Seele.

Und zählen muß ich — Mit der Zahl
Schwillt immer höher meine Qual;
Mir ist, als wälzten sich die Leichen,
Auf meine Brust — Gottlob! Sie weichen!

Gottlob! Durch meine Fenster bricht
Französisch heitres Tageslicht;
Es kommt mein Weib, schön wie der Morgen
Und lächelt fort die deutschen Sorgen.

Bản tiếng Anh:

Night Thoughts

Thinking of Germany at night
Just puts all thought of sleep to flight;
No longer I can close an eye,
Tears gather and I start to cry.

So many years have come and passed
Since I saw my old mother last,
Twelve years I have seen come and go;
My yearning and my longing grow.

My longing’s grown since our farewell.
Perhaps she cast on me a spell,
The good old woman I can’t sleep
And thinking of her— whom God may keep.

From all her letters I must see
How deep the love she feels for me,
The tremblings of her hand betray
More than her trembling heart would say.

The mother’s always in my mind,
Already twelve years lie behind,
Twelve long years since I did depart
And clasped the mother to my heart.

Germany will for evermore
Endure; she’s healthy to the core;
Returning I shall always find
Her oaks and lindens left behind.

My longing for her I could bear
But for the good old woman there;
There will always be Germany,
But the old mother may pass away.

And since I left the Fatherland,
The grave has claimed so many a friend
Whom I have loved—I count the toll
And fear to death will bleed my soul.

And count I must, and as I count
My torment and their numbers mount;
I feel how their dead bodies heave
Upon my breast—thank God, they leave!

Thank God—for a French morning light
Breaks through my window gay and bright;
My wife, resplendent as the day
Smiles all my German cares away.

Chú thích của người dịch:
Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Alexander Michelis (1823 – 1868): Họa sĩ Đức.

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2020

Hãy chờ xem

Heinrich Heine (1797-1856)



Vì tôi chớp lóe toàn chói nét
Bạn nghĩ, tôi không thể gầm sấm sét
Các bạn nhầm, tôi có tài năng,
Tương tự cơ: gào thét rền vang.

Sẽ chắc chắn chứng giám điều khiếp đảm
Nếu nay mai đúng ngày đó đến nơi,
Thì bạn cần nghe giọng nói của tôi
Bão đánh tới, lời gầm sấm sét.

Vào ngày đó bão hoang dã sẽ
Chẻ toang ra thậm chí những cây sồi,
Sẽ chuyển rung một số điện đài
Và đây đó tháp nhà thờ sụp đổ!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Hãy chờ xem từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

XXIII. Wartet nur

Weil ich so ganz vorzüglich blitze,
Glaubt ihr, daß ich nicht donnern könnt!
Ihr irrt euch sehr, denn ich besitze
Gleichfalls fürs Donnern ein Talent.

Es wird sich grausenhaft bewähren,
Wenn einst erscheint der rechte Tag;
Dann sollt ihr meine Stimme hören,
Das Donnerwort, den Wetterschlag.

Gar manche Eiche wird zersplittern
An jenem Tag der wilde Sturm,
Gar mancher Palast wird erzittern
Und stürzen mancher Kirchenturm!

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:

"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Albert Bierstadt (1830-1902): Họa sĩ Mỹ gốc Đức, đại diện quan trọng của trào Lãng mạn và Hudson River School trong hội họa.

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2020

Giác ngộ

Heinrich Heine (1797-1856)


Này Michel! Mắt mi rụng lớp
Vẩy bong chưa? Nhận thấy không mi?
Ngay trước mõm, họ nẫng mất đi
Của mi những món súp ngon nhất.

Đền cho mi niềm vui thiên thượng
Họ hứa mi, vui thuần khiết siêu linh
Ở trên kia thiên thần không cần thịt
Nấu nướng niềm an lạc thái bình.

Michel! Đức tin mi trở nên yếu ớt
Hay thèm ăn lại mạnh hơn rồi?
Mi vồ lấy chiếc cốc của cuộc đời
Và mi hát bài ca ngoại giáo.

Michel! Đừng sợ chi và mơn trớn
Bụng phệ mi, ngay chốn tục trần,
Sau này ta nằm dưới mộ phần,
Mi có thể im re tiêu hóa.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Giác ngộ từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Erleuchtung 

Heinrich Heine (1797-1856)

Michel! fallen dir die Schuppen
Von den Augen? Merkst du itzt,
Daß man dir die besten Suppen
Vor dem Maule wegstibitzt?

Als Ersatz ward dir versprochen
Reinverklärte Himmelsfreud
Droben, wo die Engel kochen
Ohne Fleisch die Seligkeit!

Michel! wird dein Glaube schwächer
Oder stärker dein Apptit?
Du ergreifst den Lebensbecher,
Und du singst ein Heidenlied!

Michel! fürchte nichts und labe
Schon hienieden deinen Wanst,
Später liegen wir im Grabe,
Wo du still verdauen kannst.

Chú thích của người dịch:
(1): Michel: Tên riêng mang tính đặc trưng ám chỉ người Đức.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Carl Spitzweg (1808-1885): Họa sĩ Đức, có vị trí biệt lập trong hội họa Đức.

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2020

Bài thơ „Thả về miền núi của con tim“ của Rainer Maria Rilke

Rüdiger Görner   


Thế nghĩa là gì nhỉ, nếu người ta tự thả mình vào? Rainer Maria Rilke để dở dang những câu thơ của mình về câu hỏi này.

Người ta cũng suy nghĩ và hành động mang tính cộng sinh ra sao, cuối cùng thì cũng một thân và người ta ở lại với bản thân đơn chiếc. Ai thả rông một con thú để trốn tránh cho xong, xét theo luật pháp đã phạm vi cảnh và đáng bị trừng phạt. Nhưng mà làm sao, nếu người ta tự thả mình vào? Trong một bản thảo của Rilke – ông soạn ra ngay sau khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ, nhưng mãi tới năm 1919 mới xuất bản – những con thú ngược lại vẻ như được „bảo lưu“ và nâng niu“. Bị thả vào sống chết mặc bay ở đây có phải là cái Tôi không mạnh mẽ lên tiếng khẳng định mình, cái tiềm ẩn trong một bản thể đã bắt đầu bằng nhận biết nhưng rồi câm lặng ở đó. Có vẻ như bài thơ được viết ra bởi một kẻ bị ruồng rẫy đang đứng trên đỉnh cao của cảm nhận thuần túy; một bài thơ bắt buộc phải gãy khúc và như vậy phải dừng lại ở một phác thảo, chính bởi vì trong con người đó đang được nói về „cú đổ nhào câm lặng“.

Khi chinh phục những đỉnh núi cao, tới lúc nào đó chạm phải những ranh giới của cây xanh, ở đây cũng chính thế người ta chạm đến ranh giới của ngôn lời. Ở ranh giới đó chỉ còn thứ hoang dại, thứ thảo mộc có thể nảy chồi và cất lời „ca hát“, nếu xét về thực tế xảy ra dưới đồng bằng đầy nguy hiểm. Cảm xúc còn muốn như một „khuôn trang“ che chở, nhưng rồi tự thân cũng bị „thả buông“, một trang viên u ám, hoang tàn như bài thơ „ Trang trại thời gian“ của Paul Celan. Người ta có nên đọc bài thơ như tiếng kêu cầu giúp của một người bị ruồng bỏ? Hay nhiều hơn thế như một biên bản xác thực của trạng thái tâm hồn bên bờ của vực thẳm?

Địa phận cuối của lời

Bốn câu mệnh đề trạng ngữ gần như được đặt ra ở mức tuyệt đối – câu thứ ba lý giải trạng thái của người, một cách hiểu biết, lâm vào tình trạng câm lặng, câu thứ tư hoàn tất bản thảo (Fragment) và như vậy đương nhiên gây ra một kết thúc kiểu nào cũng chóng vánh và biến đi trong một dấu hiệu bỏ ngỏ tương tác với một tia chớp lóe lên trong suy nghĩ và hòa tan suy nghĩ này, và chính thế, cả một sự hồi tâm ngắn ngủi được tạo ra bởi ý nghĩ này vừa vụt hiện. Sự lặp lại lần thứ ba mang tính kết thúc hàm chứa một biến trạng mang tính quyết định: „thả về“ được thay thế bằng một trạng ngữ khác: „hắt hủi"; và như vậy còn gia tăng ấn tượng và ở khía cạnh cảm xúc, trạng thái không mái nhà che chở.

Câu hỏi cơ bản, cũng như thế không được nói ra của bài thơ tóm lại: Ai thả ai hay là buông thả cái chi? Người thức giả tự thả mình vào, bởi ngay từ đầu sự chiếm lĩnh hiểu biết đã bộc lộ rất nhiều về điều kiện của Hiện tồn? Và chúng nằm ở đâu, miền „núi non của trái tim“? Những ngọn núi này tiềm ẩn thứ gì? Tình yêu trong thế giới này có đọng lại trong lòng chúng, hay là chúng còn bảo tồn bên trong tình ái vẫn chưa hề được yêu chờ đợi người khai thác? Những ngọn núi này nằm bên ngoài chúng ta. Có thể chúng ta phải đào một hệ thống hầm mỏ hào lũy dọc ngang, để tiến sâu vào bên trong non núi của trái tim. Những nhà Lãng mạn thích xem mình là người thợ mỏ khai mở những hầm lò dẫn vào trong thế giới.
Những gì còn lại với người thấy mình bị ruồng bỏ trên miền núi của trái tim? Anh ta quan sát, phóng tầm mắt bao quát nhìn thảo mộc và muông thú, học cung cách tiếp xúc với đá sỏi. Kể cả khi anh ta tìm cách trải nghiệm hiểu biết của mình, ở chiều hướng gia tăng, vâng, tìm cách vượt bỏ hiểu biết trong miền núi non của cảm xúc, anh ta mơ hồ cảm nhận cái bao quanh, hiểu ra đỉnh núi như là đỉnh cao của sự chối từ thuần khiết; và điều đó ngụ ý một cuộc đời không còn muốn đáp ứng mọi sự trông đợi: cái Tôi tiềm ẩn – hay là người ta nên nói: cái Tôi tự giấu đi trước mình sẽ nói lời bằng vị thế Anh, hỏi rằng, anh liệu còn nhận ra, những điều gì mình (xưa) đã biết.

Ai tự nhìn mình bị thả vào trên miền núi không được vẽ trên một tấm bản đồ nào, sẽ tự đưa mình vào nguy cơ đương đầu kể cả với những thành tố của tự nhiên và của cảm xúc. Và điều này cũng đúng với bài thơ như bản thảo về sự cảm nhận ngôn từ, tiềm ẩn trong những cảnh trí hiểm trở của con tim núi non điệp trùng chia cắt.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức 

Fragment
 

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Thả về miền núi của con tim. Trông kia, nơi đó sao nhỏ bé,
trông kia: địa phận cuối cùng của lời
và cao hơn, nhưng cũng vậy nhỏ nhoi,
một trang viên cuối cùng của cảm xúc? Có hay anh nhận biết?
Thả về miền núi của con tim.

Nền đá ở dưới bàn tay,
Một số thứ bừng nở nơi đây, từ cú nhào âm thầm
một loài thảo mộc vô thức nẩy chồi ca hát
Nhưng còn người thức giả? Chao ôi kẻ đó đã bắt đầu nhận biết
và bây giờ nín lặng, thả về miền núi của con tim.

Kế từ đây chính thế, mang ý thức cứu rỗi,
đám thú núi này tung tăng, đám khác được bảo lưu,
hoán vị và tha thẩn. Và con chim lớn được nâng niu
bay lượn quanh sự chối từ nguyên sơ của đỉnh núi – Nhưng
chịu điều hắt hủi, ở đây trên miền núi của con tim...

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Fragment

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Ausgesetzt auf den Bergen des Herzens. Siehe, wie klein dort,
siehe: die letzte Ortschaft der Worte,
und höher, aber wie klein auch, noch ein letztes
Gehöft von Gefühl. Erkennst du's?
Ausgesetzt auf den Bergen des Herzens. 

Steingrund unter den Händen.
Hier blüht wohl einiges auf; aus stummem Absturz
blüht ein unwissendes Kraut singend hervor.
Aber der Wissende? Ach, der zu wissen begann
und schweigt nun, ausgesetzt auf den Bergen des Herzens.

Da geht wohl, heilen Bewußtseins,
manches umher, manches gesicherte Bergtier,
wechselt und weilt. Und der große geborgene Vogel
kreist um der Gipfel reine Verweigerung. - Aber
ungeborgen, hier auf den Bergen des Herzens....

Chú thích của người dịch:
Rüdiger Görner (* sinh năm 1957): Nhà nghiên cứu văn học, nhà phê bình và nhà ngữ văn Đức.

Tranh của August Macke (1887-1914): họa sĩ Biểu hiện Đức, ngã xuống ở mặt trận phía Tây gần Perthes-lès-Hurlus ở vùng Champagne.

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2020

Fragment

Rainer Maria Rilke (1875-1926)


Thả về miền núi của con tim. Trông kia, nơi đó sao nhỏ bé,
trông kia: địa phận cuối cùng của lời
và cao hơn, nhưng cũng vậy nhỏ nhoi,
một trang viên cuối cùng của cảm xúc? Có hay anh nhận biết?
Thả về miền núi của con tim.

Nền đá ở dưới bàn tay,
Một số thứ bừng nở nơi đây, từ cú nhào âm thầm
một loài thảo mộc vô thức nẩy chồi ca hát
Nhưng còn người thức giả? Chao ôi kẻ đó đã bắt đầu nhận biết
và bây giờ nín lặng, thả về miền núi của con tim.

Kế từ đây chính thế, mang ý thức cứu rỗi,
đám thú núi này tung tăng, đám khác được bảo lưu,
hoán vị và tha thẩn. Và con chim lớn được nâng niu
bay lượn quanh sự chối từ nguyên sơ của đỉnh núi – Nhưng
chịu điều hắt hủi, ở đây trên miền núi của con tim...

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức 

Fragment

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Ausgesetzt auf den Bergen des Herzens. Siehe, wie klein dort,
siehe: die letzte Ortschaft der Worte,
und höher, aber wie klein auch, noch ein letztes
Gehöft von Gefühl. Erkennst du's?
Ausgesetzt auf den Bergen des Herzens. 

Steingrund unter den Händen.
Hier blüht wohl einiges auf; aus stummem Absturz
blüht ein unwissendes Kraut singend hervor.
Aber der Wissende? Ach, der zu wissen begann
und schweigt nun, ausgesetzt auf den Bergen des Herzens.

Da geht wohl, heilen Bewußtseins,
manches umher, manches gesicherte Bergtier,
wechselt und weilt. Und der große geborgene Vogel
kreist um der Gipfel reine Verweigerung. - Aber
ungeborgen, hier auf den Bergen des Herzens....

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.
Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Franz Marc (1880-1916): Họa sĩ Đức đại diện tiêu biểu phái Biểu hiện (Expressionism).

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2020

Thế giới đảo điên

Heinrich Heine (1797-1856)


Vâng, đó là thế giới điên đảo,
Chúng ta đi trồng cây chuối trên đầu!
Những thợ săn kể ra hàng tá,
Bị dẽ giun bắn chết cả xâu.

Bây giờ con bê rán đầu bếp
Những con ngựa cưỡi trên lưng người,
Con cú của nhà thờ công giáo
Tranh đấu cho quyền khai sáng, dạy đời.

Con cá mòi trở thành Xăng- qui-lốt (1),
Cô Bettina (2) nói chân lý ta nghe;
Và một con mèo đực đi hia,
Mang Sophocles (3) diễn trên sân khấu.

Dành cho những người anh hùng Đức,
Một con khỉ đã cho xây ngôi đền,
Ngài Maßmann (4) mới đây đã chải tóc,
Như các tờ báo Đức đưa tin.

Những con gấu Đức không còn xác tín
Và trở nên những kẻ vô thần;
Ấy mà thế những con vẹt Pháp
Chúng trở thành mẫu mực giáo dân .

Trong tờ tin vùng Uckermark,
Nơi họ phao tin quái kỳ thay:
Một người chết viết cho người đang sống,
Chữ mộ bia ngoằn nét rồng bay.

Chúng ta đừng bơi ngược dòng nước,
Hỡi anh em, nào mấy ăn thua!
Hãy trèo lên đỉnh Templower Berg (5)
Và hô to: Vạn tuế nhà vua!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Thế giới đảo điên từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

XXI. Verkehrte Welt

Heinrich Heine (1797-1856)

Das ist ja die verkehrte Welt,
Wir gehen auf den Köpfen!
Die Jäger werden dutzendweis
Erschossen von den Schnepfen.

Die Kälber braten jetzt den Koch,
Auf Menschen reiten die Gäule;
Für Lehrfreiheit und Rechte des Lichts
Kämpft die katholische Eule.

Der Häring wird ein Sanskülott,

Die Wahrheit sagt uns Bettine,
Und ein gestiefelter Kater bringt
Den Sophokles auf die Bühne.

Ein Affe läßt ein Pantheon

Erbauen für deutsche Helden.
Der Maßmann hat sich jüngst gekämmt,
Wie deutsche Blätter melden.

Germanische Bären glauben nicht mehr

Und werden Atheisten;
Jedoch die französischen Papagein,
Die werden gute Christen.

Im uckermärkschen Moniteur,

Da hat mans am tollsten getrieben:
Ein Toter hat dem Lebenden dort
Die schnödeste Grabschrift geschrieben.

Laßt uns nicht schwimmen gegen den Strom,

Ihr Brüder! Es hilft uns wenig!
Laßt uns besteigen den Templower Berg
Und rufen: es lebe der König!

Chú thích của người dịch:

(1) Sansculotten: Những người mặc quần dài (khác với giới quí tộc, phong kiến mặc quần chẽn đến đầu gối). Khái niệm Xăng- qui-lốt chỉ vô sản, công nhân, tiểu thị dân trong Cách mạng tư sàn Pháp, trong một giai đoạn cách mạng, vì ủng hộ phái Gia-cô-banh họ có ảnh hưởng rất lớn.
(2) Bettina von Arnim (1785-1859): Nhà văn nữ, đại diện quan trọng của trào Lãng mạn. Là nhà hoạt động xã hội, bà giao lưu với nhiều gương mặt trí thức, văn nghệ sĩ đương thời, trao đổi ý kiến với những nhà xã hội không tưởng và cả Karl Marx. Bà đấu tranh cho nữ quyền, cho quyền bình đẳng của người Do Thái. Ở đây Heinrich Heine nhẹ nhàng châm biếm những quan điểm ngây thơ vế chính trị, khi bà cổ súy cho Friedrich Wilhelm IV và đặt kỳ vọng nhà quân chủ sẽ cải cách xã hội tạo lập quyền cho giới công nhân, vô sản.
(3) Sophocles ( 497/496 TCN – 406/405 TCN): Nhà thơ, kịch tác gia của văn chương Hy Lạp cổ đại.
(4) Hans Ferdinand Maßmann (1797-1874): Nhà ngữ văn Đức, tham gia và cổ súy phong trào thể dục biểu dương những phẩm chất ưu trội của dân tộc Đức.
(5) Một tên gọi mang tính lịch sử của Kreuzberg, vùng đồi núi, nay thành một quận của Berlin.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:

„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:

"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Hieronymus Bosch ( 1460-1516): Họa sĩ thời Phục Hưng người Hà Lan.

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2020

Hãy trấn tĩnh

Heinrich Heine (1797-1856)     
  


Chúng ta ngủ vùi, như Brutus (1) ngủ -
Vừa tỉnh đâm lạnh buốt mũi dao
Vào ngực của Caesar khoan sâu!
Người La mã ăn thịt xương bạo chúa.

Không là người La mã, chúng ta hút thuốc lá.
Mỗi tộc người có một thị hiếu riêng,
Mỗi dân tộc có riêng một tầm vóc;
Người Swabia giỏi nấu bánh bột viên.

Chúng ta người Giec-manh, ngoan và thư thái,
Chúng ta ngủ giấc cây cỏ thật sâu
Và nếu tỉnh giấc, chúng ta tuy thế
Không thói quen khát máu vương hầu.

Chúng ta lòng trung trinh như phiến gỗ
Gỗ sồi, gỗ đoan, tự hào quá đi thôi;
Trên đất nước của cây đoan, cây sồi
Sẽ không bao giờ tìm ra một Brutus.

Nếu trong chúng ta tìm ra một Brutus,
Chẳng bao giờ hắn tìm thấy Caesar,
Tìm Caesar luống công khó nhọc;
Chúng ta có bánh hồ tiêu đậm đà.

Chúng ta có ba mươi sáu vị vua chúa,
(Không quá nhiều!) và một vì sao
Gắn trước ngực mỗi người như hộ mệnh,
Rằm tháng Ba (2) há phải sợ nào.

Chúng ta gọi họ là vua cha, và tổ quốc,
Là đất của cha gọi tên đất nước này
Thuộc về những ông hoàng hưởng quyền thế tập,
Chúng ta cũng ưa món xúc xích, dưa cay.

Nếu Cha ta ra ngoài đi dạo mát
Thành kính chúng ta ngả mũ tôn thờ;
Nước Đức, phòng sùng đạo của trẻ thơ,
Có đâu là mồ sát nhân La mã.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Hãy trấn tĩnh từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

XX. Zur Beruhigung

Heinrich Heine (1797-1856)

Wir schlafen ganz, wie Brutus schlief -
Doch jener erwachte und bohrte tief
In Cäsars Brust das kalte Messer!
Die Römer waren Tyrannenfresser.

Wir sind keine Römer, wir rauchen Tabak.
Ein jedes Volk hat seinen Geschmack,
Ein jedes Volk hat seine Größe;
In Schwaben kocht man die besten Klöße.

Wir sind Germanen, gemütlich und brav,
Wir schlafen gesunden Pflanzenschlaf,
Und wenn wir erwachen, pflegt uns zu dürsten
Doch nicht nach dem Blute unserer Fürsten.

Wir sind so treu wie Eichenholz,
Auch Lindenholz, drauf sind wir stolz;
Im Land der Eichen und der Linden
Wird niemals sich ein Brutus finden.

Und wenn auch ein Brutus unter uns wär,
Den Cäsar fänd er nimmermehr,
Vergeblich würd er den Cäsar suchen;
Wir haben gute Pfefferkuchen.

Wir haben sechsunddreißig Herrn
(Ist nicht zuviel!), und einen Stern
Trägt jeder schützend auf seinem Herzen,
Und er braucht nicht zu fürchten die Iden des Märzen.

Wir nennen sie Väter, und Vaterland
Benennen wir dasjenige Land,
Das erbeigentümlich gehört den Fürsten;
Wir lieben auch Sauerkraut mit Würsten.

Wenn unser Vater spazierengeht,
Ziehn wir den Hut mit Pietät;
Deutschland, die fromme Kinderstube,
Ist keine römische Mördergrube.

Chú thích của người dịch:

(1) Marcus Junius Brutus (85 TCN – 42 TCN), hay Quintus Servilius Caepio Brutus, là một thành viên của Viện nguyên lão La Mã thuộc Cộng hòa La Mã. Người được biết đến nhiều nhất trong lịch sử hiện đại với tư cách là nhân vật đóng vai trò hàng đầu trong âm mưu ám sát Julius Caesar.
(2) Ngày Julius Caesar bị ám sát. Người đọc không khỏi liên hệ Iden des Märzen (Rằm tháng Ba) tới Ideen des Märzen (Tử tưởng tháng Ba), giai đoạn sôi động nhất của Cách mạng 1848 – 1849 tại các công quốc nói tiếng Đức, giai đoạn mở đầu còn được gọi là Cách mạng tháng ba (Märzrevolution), vào lúc đầu là một phần của trào lưu Cách mạng 1848 nổ ra ở nhiều nước châu Âu đại lục. Các tầng lớp trung lưu nổi dậy đòi hỏi một Hiến pháp Tự do, một chủ nghĩa Liên Đức chống lại nền chuyên chế phong kiến của của 36 công quốc Đức (36 vị vua/vương công), trong khi công nhân, thợ thuyền đòi cải cách triệt để điều kiện sống và làm việc.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."
„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“
„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Ferdinand Victor Eugène Delacroix (1798 – 1863), họa sĩ Pháp, đặc biệt vì sức tưởng tượng và cách dùng mầu phóng khoáng, được coi như người dọn đường cho Chủ nghĩa Ấn tượng.

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2020

Gửi người tuần đêm

Heinrich Heine (1797-1856)      



Nếu phong thái và tim ngươi không suy đốn
Thì dám ngươi diễn mọi trò chơi;
Anh bạn, chẳng bao giờ ta nhìn lầm ngươi,
Và ta cũng nên gọi ngươi là ngài quan đốc (1).

Bây giờ bọn chúng la váng óc,
Cũng chỉ vì ngươi triều kiến, vuốt ve (2)
Từ bờ sông Xen tới dòng Elbe
Từ nhiều mùa trăng ta vẫn nghe điều ấy:

Những cặp giò tiến bộ hình như vậy
Biến hóa thành giò tụt hậu, - ồ nói ra!
Thực ngươi cưỡi trên con cua vùng Swabia?
Thực ngươi liếc tình các ái cơ của lãnh chúa?

Có thể ngươi mệt nhoài, thèm ngủ quá.
Ngươi đã năng rúc tù và suốt đêm
Mắc vào móc, giờ ngươi treo kèn lên,
Ai muốn, thì tò te cho tên gàn Đức!

Ngươi lăn ra giường và nhắm mắt,
Mà người đời chẳng để ngươi yên đâu
Trước cửa sổ, kẻ gào la chế nhạo:
-„Brutus (3) ngủ ư? Người giải phóng dậy mau!“

Ôi trời, một kẻ hét rõ to nào biết
Tại sao anh lính tuần giỏi nhất lại im ro,
Sao phạt được trẻ anh hùng mồm to,
Vì sao con người cuối cùng câm mõm.

Ngươi hỏi ta, liệu ở đây có ổn?
Ở đây im, không làn gió phất phơ
Cờ đuôi nheo báo thời tiết khá dật dờ
Chúng không biết chuyển theo phương nào nữa…

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Gửi người tuần đêm từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

An den Nachtwächter

Heinrich Heine (1797-1856)

Verschlechtert sich nicht dein Herz und dein Stil,
So magst du treiben jedwedes Spiel;
Mein Freund, ich werde dich nie verkennen,
Und sollt ich dich auch Herr Hofrat nennen.

Sie machen jetzt ein großes Geschrei,
Von wegen deiner Verhofräterei,
Vom Seinestrand bis an der Elbe
Hört ich seit Monden immer dasselbe:

Die Fortschrittsbeine hätten sich
In Rückschrittsbeine verwandelt - O, sprich,
Reitest du wirklich auf schwäbischen Krebsen?
Äugelst du wirklich mit fürstlichen Kebsen?

Vielleicht bist du müde und sehnst dich nach Schlaf.
Du hast die Nacht hindurch so brav
Geblasen, jetzt hängst du das Horn an den Nagel,
Mag tuten, wer will, für den deutschen Janhagel!

Du legst dich zu Bette und schließest zu
Die Augen, doch läßt man dich nicht in Ruh.
Vor deinem Fenster spotten die Schreier:
»Brutus, du schläfst? Wach auf, Befreier!«

Ach! so ein Schreier weiß nicht, warum
Der beste Nachtwächter wird endlich stumm,
Es ahndet nicht so ein junger Maulheld,
Warum der Mensch am End das Maul hält.

Du fragst mich, wie es uns hier ergeht?
Hier ist es still, kein Windchen weht,
Die Wetterfahnen sind sehr verlegen,
Sie wissen nicht, wohin sich bewegen...

Chú thích của người dịch:
(1) Bài thơ chế diễu Franz Freiherr von Dingelstedt (1814-1881) nhà thơ, nhà báo, giám đốc nhà hát, tác giả của loạt bài thơ Người tuần đêm. Vì tư tưởng cộng hòa và là người đối kháng với chính trị Trùng hưng sau Hội nghị Vienna và nền chính trị quân chủ-chuyên chế, tác phẩm của ông có thời bị chính quyền Phổ cấm xuất bản. Ông được Heinrich Heine (bỏ ngoài tai những câu thơ bài Do thái của Dingelstedt) đón tiếp thân mật tại Paris:
„Người tuần đêm bộ giò dài tiến bộ
Từ đâu sao hớt hải, chạy nháo nhào!
- Người thân tôi bên nhà đều khoẻ chứ?
Tổ quốc ta đã giải phóng rồi sao?“ (Người tuần đêm đến Paris)
Được xem như những nhà thơ nhà văn phản kháng như Heinrich Heine, Heinrich Laube, Karl Gutzkow, August Heinrich Hoffmann von Fallersleben, Hermann Ferdinand Freiligrath, Georg Herwegh, bất ngờ Dingelstedt nhận chức và được nhà vua công quốc Württemberg phong hàm phẩm. Sự kiện này gây thất vọng lớn cho không chỉ cho Heine, Herwegh và Freiligrath.

(2) Verhofräterei : Chữ của Heinrich Heine không có trong tiếng Đức, Heinrich Heine nói trại ra từ chữ Hofrat (Hof: Triều đình, Rat: Quan chấp sự) một cách miệt thị hàm phẩm vua ban Dingelstedt đã nhận.
(3) Marcus Junius Brutus (85 TCN – 42 TCN), hay Quintus Servilius Caepio Brutus, là một thành viên của Viện nguyên lão La Mã thuộc Cộng hòa La Mã. Người được biết đến nhiều nhất trong lịch sử hiện đại với tư cách là nhân vật đóng vai trò hàng đầu trong âm mưu ám sát Julius Caesar.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Người tuần đêm ngủ gật - Tranh của Carl Spitzweg (1808-1885): Họa sĩ Đức, có vị trí biệt lập trong hội họa Đức.

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2020

Thế giới, giấc mơ của chúng ta

Hermann Hesse (1877-1962)   



Thành phố và người trong giấc mộng đêm đêm,
Những ma quái, những tòa nhà lởn vởn,
Anh biết đó, tất cả đang vươn lớn,
Từ không gian tăm tối của linh hồn,
Là ảnh hình, tác phẩm riêng tồn.
Của anh đó, là của anh giấc mộng.

Hãy đi qua thành phố và các hẻm vào ban ngày
Hãy nhìn mặt người, nhìn vào đám mây,
Và anh sẽ sững sờ thấy rõ:
Họ của anh, anh là nhà thơ của họ!
Tất cả, những gì muôn vẻ sống,
Trước ngũ quan, đung đưa và sinh động,
Là của anh, là đó giấc mơ thôi
Sâu trong anh, hồn anh đẩy đưa nôi,

Qua anh, tự chúng vĩnh hằng tiến bước,
Lúc mở rộng cho anh, khi thì chế ước,
Anh là người nghe, hay diễn giả,
Kẻ tạo tác hay là người tàn phá,
Những lực lượng nhiệm màu lâu đã lãng quên ,
Dệt thêu nên sự lừa mị linh thiêng,
Và thế giới này, vô lượng cao xanh,
Sinh sống từ nhịp thở của anh.

©®Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Die Welt unser Traum

Hermann Hesse (1877-1962)

Nachts im Traum die Städt‘ und Leute,
Ungeheuer, Luftgebäude,
Alle, weißt du, alle steigen
Aus der Seele dunklem Raum,
Sind dein Bild und Werk, dein eigen,
Sind dein Traum.

Geh am Tag durch Stadt und Gassen,
Schau in Wolken, in Gesichter,
Und du wirst verwundert fassen:
Sie sind dein, du bist ihr Dichter!
Alles, was vor deinen Sinnen
Hundertfältig lebt und gaukelt,
Ist ja dein, ist in dir innen,
Traum, den deine Seele schaukelt.

Durch dich selber ewig schreitend,
Bald beschränkend dich, bald weitend,
Bist du Redner und Hörer,
Bist du Schöpfer und Zerstörer.
Zauberkräfte, längst vergeßne,
Spinnen heiligen Betrug,
Und die Welt, die unermeßne,
Lebt von deinem Atemzug.

Chú thích của người dịch: 

Hermann Hesse: (Hermann Karl Hesse, cũng dưới bút danh Emil Sinclair, 1877 - † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói thảo nguyên) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.

Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.

Tác phẩm:
Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ 
Văn xuôi:
- Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết, Tuổi trẻ và cô đơn, Vũ Đình Lưu dịch.
- Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết.
- Tuổi trẻ băn khoăn (Demian, 1917), truyện dài, Hoài Khanh dịch.
- Siddhartha (1920), tiểu thuyết được Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch dưới tiêu đề Câu chuyện dòng sông.
- Sói thảo nguyên (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.
- Đôi bạn chân tình (Narziss und Goldmund), Vũ Đình Lưu dịch.
- Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết.
- Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.

Tranh của Paul Cézanne (1839-1906): Họa sĩ Pháp, mở đường cho nhiều khuynh hướng, chủ nghĩa trong hội họa hiện đại.

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2020

Viên chấp sự Prômêtê

Heinrich Heine (1797-1856)  


Kỵ sĩ Paulus(1), kẻ cướp dòng cao quí,
Với vầng trán nhăn nếp sa sầm,
Thánh thần nhìn xuống mi dưới trần,
Giận dữ tột cùng nhằm mi đe dọa.

Vì ăn cướp hay là ăn cắp
Mi tiến hành trên đỉnh Olympus kia
Hãy hãi hùng số phận Prômêtê (2)
Nếu mi bị bày tôi Jove (3) bắt.

Đương nhiên, kẻ nọ đánh cắp thứ tệ nữa
Cắp ánh sáng, mãnh lực lửa thần linh,-
Để khai sáng cho loài người mi lại
Đánh cắp đi quyển vở của Schelling (4).

Thứ đối nghịch của ánh sáng chính thế
Là bóng tối người ta chạm vào,
Thứ người ta vớ lấy như ngày nào
Xưa nặng trĩu đè lên Ai Cập.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Chấp sự Prômêtê từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Kirchenrat Prometheus

Heinrich Heine (1797-1856)

Ritter Paulus, edler Räuber,
Mit gerunzelt düstren Stirnen
Schaun die Götter auf dich nieder,
Dich bedroht das höchste Zürnen,

Ob dem Raube, ob dem Diebstahl,
Den du im Olymp begangen -
Fürchte des Prometheus Schicksal,
Wenn dich Jovis Häscher fangen!

Freilich, jener stahl noch Schlimmres,
Stahl das Licht, die Flammenkräfte,
Um die Menschheit zu erleuchten -
Du, du stahlest Schellings Hefte,

Just das Gegenteil des Lichtes,
Finsternis, die man betastet,
Die man greifen kann wie jene,
Die Egypten einst belastet.

Chú thích của người dịch:

(1) Heinrich Eberhard Gottlob Paulus (1761-1851): Giáo sư thần học và chấp sự/ủy viên ban trị sự địa hạt Heidelberg. Heine nhắc tới ông trong tác phẩm Trường học Lãng mạn (Romantische Schule) như thủ lĩnh của phái duy lý. Mùa đông 1841/1842, tại trường Tổng hợp Berlin, triết gia Schelling giảng một loạt bài về triết học mặc khải. Dựa vào ghi chép của một thính giả, nhà thần học Heinrich Paulus đã bình luận và xuất bản, không có sự đồng ý của Schelling. Triết gia phản ứng lại bằng đơn kiện ra tòa vì vi phạm tác quyền. Vụ xét xử kéo dài nhiều ngày với kết quả Paulus được trắng án, vì theo tòa, phần trích dẫn bài giảng của Schelling là khá nhỏ so phần bình luận, tất nhiên theo hướng chì trích và phê phán gay gắt. Schelling kháng nghị lại bản án về ăn cắp sở hữu trí tuệ, khiến vụ này om sòm trên báo chí năm 1843.

(2) Prometheus (Prômêtê): Trong thần thoại Hy Lạp Prometheus đánh cắp lửa của thánh thần và chính vì thế bị thần Dớt (Zeus) cầm tù và xiềng vào vách đá.

(3) Trong tôn giáo và thần thoại La Mã cổ đại, Jupiter (tiếng Latinh: Iuppiter) hoặc Jove là vua của các vị thần và là vị thần của bầu trời và sấm sét. Người La Mã xem Jupiter tương đương như Zeus (thần Dớt) của thần thoại Hy Lạp cổ đại.

(4) Friedrich Wilhelm Joseph Schelling (1775-1854): Triết gia duy tâm, một trong những nhà triết học lớn của trào lưu triết học cổ điển Đức. Heinrich Heine, tác giả của Phê phán lịch sử và tôn giáo Đức, với tư cách luật gia khi đó quan tâm tới vụ kiện và quan trọng hơn, nhân sự kiện này ông đưa vào những bài viết về hiện trạng nước Đức của mình sự phê phán và trình bày triết học hậu kỳ của Schelling như một bước tụt lùi vào bóng tối.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.
George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."
„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).
Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“
„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.
Tranh của Jan Cossier (1600-1671): Họa sĩ người Flemish.

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2020

Hạnh phúc

Hermann Hesse (1877-1962)



Chừng nào anh săn lùng hạnh phúc
Anh chưa chín muồi cho hạnh phúc lâng lâng,
Như thể mọi điều yêu quí nhất thuộc về anh.

Chừng nào anh than van mất mát
Không ngơi nghỉ và anh có đích ,
Anh chưa biết, an bình là chi.

Chỉ tới khi anh khước từ mọi nguyện ước
Không còn biết tới đích và khát thèm
Không còn gọi hạnh phúc bằng tên.

Thì sóng triều của biến thiên dâu bể.
Không đập được tới tim, và lòng anh an nghỉ.

©®Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Glück

Hermann Hesse (1877-1962)

Solang du nach dem Glücke jagst,
Bist du nicht reif zum Glücklichsein,
Und wäre alles Liebste dein. 

Solang du um Verlornes klagst
Und Ziele hast und rastlos bist,
Weißt Du noch nicht, was Friede ist. 

Erst wenn du jedem Wunsch entsagst,
Nicht Ziel mehr noch Begehren kennst,
Das Glück nicht mehr mit Namen nennst, 

Dann reicht dir des Geschehens Flut
Nicht mehr ans Herz, und deine Seele ruht.

Chú thích của người dịch: 

Hermann Hesse: (Hermann Karl Hesse, cũng dưới bút danh Emil Sinclair, 1877 - † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói thảo nguyên) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.

Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.

Tác phẩm:

Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ 

Văn xuôi:
- Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết, Tuổi trẻ và cô đơn, Vũ Đình Lưu dịch.
- Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết.
- Tuổi trẻ băn khoăn (Demian, 1917), truyện dài, Hoài Khanh dịch.
- Siddhartha (1920), tiểu thuyết được Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch dưới tiêu đề Câu chuyện dòng sông.
- Sói đồng hoang (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.
- Đôi bạn chân tình (Narziss und Goldmund), Vũ Đình Lưu dịch.
- Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết.
- Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.

Tranh của Joan Miró (1893-1983): Họa sĩ Tây Ban Nha.

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2020

Án oan tận mạng

Phạm Kỳ Đăng


Năm 1947, một phụ nữ cùng đứa con nhỏ của chị bị người nào dùng rìu bổ chết. Người cha và ông nội cháu bé „hạn chế về trí tuệ“, như một giám định viên đánh giá, đã vội vã thú nhận với cảnh sát, thêm vào đó ông còn dính vệt máu của cháu bé trên chiếc áo sơ mi đang mặc. Mãi tới năm 1966 kẻ giết người thực sự mới ra đầu thú. Một người lính quân đội nước ngoài đóng quân tại Siegburg đi qua địa phương đã thực hiện hành vi đó khi đột nhập vào nhà người dân.

Cũng không lâu, 19 năm trước, Rudolf Rupp, người nông dân miền Bavaria Thượng biến đi không để lại vết tích. Dưới áp lực phía điều tra viên gây ra, thân quyến trong gia đình khai, đã giết chết „người cha đáng ghét“ và vằm xác cho lợn ăn, dẫu trên trang trại nuôi gia súc không hề có vết tích để lại. Vợ ông và anh con rể „kém cỏi về trí năng“ phải ngồi tù. Năm 2009 người ta mò được chiếc xe Mercedes trong đó có thi thể Rupp – có lẽ ông ta đi uống ở tửu quán đâu đó và do say rượu đã tử nạn trên đường về.

Trong lịch sử hình sự Đức hiện đại, vì chỉ căn cứ vào lời thú nhận và nhìn nhận lời khai như chứng cứ tuyệt đối, hai án oan đã xảy ra. Ở vụ thứ nhất, người ta lờ mờ cảm thấy điều tra viên có thể còn ép cung, rơi rớt phong cách của hình sự thời Quốc xã. Trong vụ thứ hai có sự nôn nóng và gây áp lực của cảnh sát hình sự được báo chí thừa nhận.

Với thời gian, khoảng chơi và phương tiện của cảnh sát ngày càng bị giới hạn hơn, có thể nói đã tới mức tối đa, bởi pháp luật nghiêm cấm tra tấn, dùng nhục hình. Điều tra chịu nhiều chế tài giám sát khác nhau, và cảnh sát hình sự chỉ có nhiệm vụ điều tra, đương nhiên theo cả hướng suy đoán vô tội.

Với sự hoàn thiện của ngành tư pháp, người ta chấp nhận nhiều vụ việc đìều tra ra đối tượng, mà thế tội ác không bị trừng phạt đích đáng. Trong vài vụ giết người, chứng cứ tìm ra mười mươi, nhưng bởi không đáp ứng được 100% yêu cầu khách quan và vật chất của chứng cứ, ngành tư pháp độc lập và thậm chí cả xã hội đành bỏ cuộc và buông xuôi chờ đợi.

Thế còn các vụ án mạng không tìm ra xác chết, số phận nghi phạm hay phạm nhân nói chung sẽ ra sao? Tôi đã có dịp hỏi chuyện một luật sư. Ông ấy nói rằng, trường hợp này khó bề kết xử.

Tòa án bang Bonn, tại phiên giám đốc thẩm không tìm ra chứng cứ qui kết đầu bếp Dirk D. người vùng Eitorf tội sát hại chị Sandra D.– người vợ của mình, người mẹ của hai đứa con (22 và 10 tuổi), vì thế đã hủy bỏ bản án tuyên năm 2014 vì tội giết người. Theo kết luận đó bị cáo Dirk D. bị tuyên án 11 năm tù giam.

Bà Sandra D. mất tích cho đến hôm nay. Dạo đó, tháng 12 năm 2012, sự biến mất của người phụ nữ đứng quầy thu ngân tóc vàng đã gây chấn động cho người dân khu vực. Rất nhiều người hôm nay tin chắc rằng, chính Dirk D., kẻ „hay ghen“ ấy, mười mươi là thủ phạm.

Rất nhiều người tham gia vào cuộc tìm xác. Không tìm ra dấu vết gì của bà Sandra D, để lại trong nhà. Chó nghiệp vụ không sủa một tiếng tại sân nhà, khu vực xung quanh và các ô tô. Thậm chí cảnh sát điều tra chui cả xuống ống cống nước thải lùng sục.

Trong thực tế, năm 2013 Dirk D. đã thú nhận với người tình Tanja A., tuy chưa bao giờ với cảnh sát và tòa án, rằng anh ta sát hại vợ. Trong vụ xử sơ thẩm, anh ta cả quyết chung chung đã làm việc này vì yêu người tình mới làm quen thời gian ngắn sau khi vợ biến mất.

Cô người yêu có tính ái kỷ này rất „hám chuyện động trời“, luôn muốn được cung cấp „tình tiết giết người thật cụ thể“. Vì thế anh ta luôn kể ra câu chuyện trong những biến thể mới, việc anh ta theo đó vào đêm mồng 9 tháng Chín 2012 đã đánh thuốc mê người vợ tròn 42 tuổi, đẩy bà ta ngã xuống cầu thang, bóp cổ, chặt xác và bỏ lẫn vào rác bệnh viện chở đi. Với những tin tức đó, cô người tình Tanja A. đã ra trình cảnh sát.
Tòa án tối cao Karlsruhe đã tiếp nhận kháng nghị và chuẩn y thủ tục giám đốc thẩm, bởi lời khai của nữ nhân chứng không thuyết phục, mang nhiều tình tiết đáng ngờ.

Tại phiên giám đốc thẩm tiến hành tại tòa án bang Bonn, bằng những câu hỏi của mình, chủ tọa phiên tòa đã quay nữ nhân chứng có thể nói rời ra từng mảnh. Ông nêu rõ trong các vụ xét xử, Tanja A. đã luôn „cung ứng“ cho viện công tố, tòa án và cảnh sát những tình tiết mới. Vị thẩm phán chủ tọa trích ra hàng ngàn mục trạng thái cô ta viết khoe với các bạn công lao của mình, với thái độ dương dương tự đắc, đã „truy tìm ra dấu vết hung thủ“, và mãn nguyện để cho người đời ngợi khen cô như một „nữ anh hùng“.

Bản giám định của bà giám định viên người Berlin đáp ứng đầy đủ các tiêu chí củng cố sai sót của lời thú nhận. Rất đúng với Dirk D: sự lệ thuộc về tình cảm và tình dục của nghi phạm vốn sống cô độc; sự vượt trội về trí tuệ của Tanja A. từng trải - cô con gái của một viên chức ngoại giao - và tình cảnh tuyệt vọng của anh đầu bếp. Hai lần anh ta đã tìm cách tự sát. Về việc này cô tình nhân từng chatt với bạn trên internet: “Tôi là cái cọc bám cuối cùng của anh ta. “

Sandra D. có ý định bỏ chồng và anh ta biết điều đó. Hai người thường xuyên cãi vã nhau vì tiền bạc. Chị đã ra thuê căn hộ riêng và đi lại với một doanh nhân, tuy nhiên ông này trước tòa án „đã không còn nhớ mình đã làm những gì trong cái đêm Sandra D. biến mất“. Theo lời vị thẩm phán “đáng lẽ ra vào thời điểm ấy người ta đã có thể lần theo những dấu vết khác, nếu như mọi ánh mắt không chỉ đổ dồn vào mỗi Dirk D.“. Nhưng ngày hôm nay các cơ quan tư pháp không thể làm việc đó nữa“.

Dirk D. được thả ngay sau khi kết thúc phiên tòa giám đốc thẩm.

Theo dõi vụ án Hồ Duy Hải người quan tâm có thể thấy rằng, với sự vi phạm nghiêm trọng về thể thức ở các khâu điều tra, và nhìn dưới giác độ của nhà nước dân chủ - pháp quyền, các cơ quan chức năng đã thiếu hẳn chứng cứ để thụ lý một thủ tục xét xử. Và khi các thủ tục xét xử đều sai sót, tùy tiện như thế khi tiến hành, tòa án tối cao, xét cả về chức năng quyền hạn có được, dẫu căn cứ dựa vào bộ luật xộc xệch và khiếm khuyết, cũng bắt buộc phải chỉ có mỗi một nhiệm vụ duy nhất là tiếp nhận kháng nghị và hủy bỏ các bản án sơ thẩm và phúc thẩm. Ông Nguyễn Hòa Bình và hội đồng thẩm phán của ông phải làm việc đó. Đằng này tòa do ông cầm đầu long trọng y án, tức là ở cấp cao nhất, hua dao múa thớt khai mạc bản án tử hình của các phiên tòa trước. Lại cũng là dao thớt mua ở chợ.

Bà mẹ khốn khổ bị đẩy xuống ao, chới với giơ tay quờ tìm công lý, liền bị tòa án tối cao của ông chà đạp cú nữa quằn quại trong ngày hôm kia, ngày của mẹ.

Tranh của Salvador Dali (1904-1989), họa sĩ Tây Ban Nha.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...