Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2021

Điệu vũ vòng

Ingeborg Bachmann (1926-1973) 



Vũ vòng - tình yêu thư thoảng
khựng trong tàn lụi mắt người,
và ta nhìn vào trong mắt
riêng của tình yêu tắt vùi.

Khói lạnh từ miệng núi lửa
phả hàng mi của ta loang;
ấy sự trống rỗng kinh hoàng
chỉ một lần dừng hơi thở.

Ta nhìn những đôi mắt chết,
chẳng khi quên lãng, làm ngơ.
Tình yêu mãi còn lâu nhất
chẳng nhận ra ta bao giờ.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Reigen

Ingeborg Bachmann (1926-1973)

Reigen — die Liebe hält manchmal
im Löschen der Augen ein,
und wir sehen in ihre eignen
erloschenen Augen hinein.

Kalter Rauch aus dem Krater
haucht unsre Wimpern an;
es hielt die schreckliche Leere
nur einmal den Atem an.

Wir haben die toten Augen
gesehn und vergessen nie.
Die Liebe währt am längsten
und sie erkennt uns nie.

Chú thích của người dịch:

Ingeborg Bachmann: Nữ thi sĩ Áo sinh năm 1926 tại Klagenfurt - mất trong một tai nạn ở Roma, Ý năm 1973 * Ingeborg Bachmann lấy bằng tiến sĩ Triết học, làm việc tại đài phát thanh Áo. Là một nhà thơ, tiểu thuyết gia và nhà viết tiểu luận, bà nổi tiếng trong văn chương Đức ngữ * Năm 1952, bà đã đọc những bài thơ đầu tay trước "Nhóm 47" và đã được Nhóm này trao tặng một giải thưởng vào năm kế đó * Sau sự kiện đó bà chỉ chuyên chú vào văn chương, viết nhiều tập thơ, kịch truyền thanh, truyện ngắn , rồi mười năm sau, cuốn tiểu thuyết rất đẹp tựa là Malina, được trình bày như "một tác phẩm tiểu thuyết về nhiều cách chết khác nhau"* Những cuốn truyện khác của bà là Franza và Kinh cầu hồn cho Fanny Goldmann gây tiếng vang. Bà còn là tác giả tập tiểu luận Những bài giảng ở Frankfurt: Những vấn đề của thơ hiện thời và tập Berlin, một nơi may rủi (với 13 hình vẽ của Gϋnter Grass). * Trong cuộc đời thực, cũng như trong thơ và truyện (Malina), Ingeborg Bachmann bày tỏ tình yêu mến nhà thơ Paul Celan (tác giả của bài thơ Tẩu khúc Tử thần) người bà đã gặp lần đầu tiên vào tháng giêng 1948 tại Vienna, rồi 1950, 1952 và mùa thu 1957. Từ năm 1976, thành phố Klagenfurt trao giải thưởng Ingeborg Bachmann mang tên bà, là một trong những giải thưởng văn chương quan trọng nhất trong khu vực nói tiếng Đức.

Tranh Gerhard Richter, sinh năm 1932, họa sĩ, nhà điêu khắc Đức (được nhiều hội đồng chuyên môn danh tiếng đánh giá là họa sĩ quan trọng số 1 của thế giới đương đại).

Thứ Hai, 25 tháng 1, 2021

BÀI THƠ "NGƯỜI DU KHÁCH NGOÁI NHÌN VỀ PHÍA SAU" CỦA GÜNTER KUNERT

Christian Gampert   



Bài thơ in trong tập thơ cuối cùng của Günter Kunnert “Làm khách trong mê cung”. Cuốn sách không bày vẽ và giản dị, một khúc hát vĩnh biệt. Thi tập nói rất ít, nhưng mà cái ít ỏi và cái chung cục này kèm với sự kiệm lời ghê gớm. Ẩn dụ mang tính baroque cổ xưa về cuộc đời như là một chuyến du được láy lại trong nhiều biến thể, những dặm trường không đếm, những con đường kéo dài vô tận. Những con đường, những lối lầm lạc, sự biệt tăm biệt tích lớn lao. Thần chết đứng trước cánh cửa, người già Kunert 90 tuổi nhìn vào mắt hắn.

Và ông làm việc ấy dài hẳn bằng một cuốn sách. Âm hưởng của bài thơ sáng tỏ từ những bài thơ văn xuôi ngắn khác của tập, có thể đọc trong hơi thở của nó. Tỉ dụ như vậy, không xót thương, với bác sĩ Benn (1): “Từng con người/ Một huyệt vùi hồi ức/ Bọc bằng thịt/ giam trong tế bào, chúng tàn tạ/ vẫn như thói thường.” Hay là với Heine, trong vần điệu “Thế giới đã xa lạ với tôi./Đứa bé của một thành phố tàn rồi / Một người khách trong miền Bắc Đức/ Thấy lịch sử ôi dào chán ngắt.

Günter Kunnert, sinh năm 1929 trong thành phố Berlin “tàn úa”, đã chia tay CHDC Đức vào năm 1979 sau khi ông đứng nhập về phía những người bảo vệ cho Wolf Biermann (2), người bạn của ông, và sự kiện này đã mãi mãi gây tổn thương cho đảng SED (3). Sau nhiều chuyến đi Anh, Italia và Hoa Kỳ phần nào mang đến cho ông không khí tươi mát ở CHDC Đức thiếu vắng đến quặn lòng, ông đã cùng người vợ ở lại một ngôi làng nhỏ nằm trong bang Schleswig – Holstein và sống tại đó với vai trò kẻ hoài nghi có năng khiếu hài hước, là người ngoài rìa, như xưa ở Đông Berlin mình đã từng là, rồi viết, vẽ, phản chiếu – luôn trong một ý thức, rằng ông sẽ không thay đổi thế giới này. Hoàn toàn khác Biermann người anh em tinh thần nhiều khi cảu rảu càu ràu, người – hôm nay thì khó hình dung ra –, vào cuối những năm bảy mươi, bằng những buổi biểu diễn concert của mình đã đưa sinh hoạt cánh tả của CHLB Đức vào địa chấn, ông làm điều đó từ phòng khách của mình và cũng tương tự từng khá gây tác động ở CHDC Đức.

Một ánh sáng ma trơi trên đồng gặt trụi

Đương thời khi còn sống, Kunert xuất thế như một kẻ “thần bí bi quan” xa cách và tinh tế, như Biermann – người tự nhìn nhận bản thân như kẻ “thần bí lạc quan” – gọi ông như vậy. Hiển nhiên hai anh em sinh đôi từ hai buồng trứng. Cả hai đều từ những gia đình Do thái mất mát người họ hàng thân quyến. “Những nẻo đường cô đơn/ phủ nhận đi những dấu đế giày in” được người du hành nhắc tới, có thể có nguồn cội của chúng nơi đây. Những con đường vòng Kunert đề cập trong bài thơ, dẫn qua khóa học đồ họa tại Berlin-Weißensee và Johannes R. Becher (4) – người khuyến khích ông đi vào sinh hoạt văn chương của CHDC Đức, vào vị trí đối kháng và sau này tới Améry (5) người bạn và người sống qua Tận thiêu (Holocaust), tới những thất vọng về chủ nghĩa xã hội có thực (6) và những thất vọng về chủ nghĩa tư bản có thực. Cho tới những “trò chơi người lớn”, như tiêu đề cuốn hồi ký của Kunert, làm con người thành ra nhỏ mọn.

Truyện kể có tiếng nhất của Günter Kunert có tên “Nhà ga trung tâm”. Một cái gã “Người nào đấy” được yêu cầu tìm đường tới cuộc treo cổ gã ở một cái nhà ga, trên một cái bàn cầu của đàn ông. Kafka tinh ròng, nhưng là sự biếm nhại nền quan liêu của CHDC Đức. Kết cục khói bốc lên trên tòa nhà, như ở Auschwitz. Hay đó là sự vấy bẩn môi trường? Dẫu Kunert, một người “bị bứng mất quê hương”, như ông tự gọi, đương thời khi còn sống đã dẫn dụ mối quan hệ thâm thiết với cái chết, thì thế đó sự buồn thương trong những bài thơ cuối cùng nhiều nín lặng hơn sẻ chia thế đó làm ta ngạc nhiên. Bởi Kunert từng là một nhân vật náo hoạt với sự hoạt bát chất Berlin và một năng lực kháng cự trào lộng chống lại quan hệ xã hội bị biến thành ngớ ngẩn. Ông không bắt tay làm được gì nhiều với Berlin mới, thứ kiến trúc lên gân lên cốt, văn hóa tiệc tùng và tự phô phang mình của những người trẻ tuổi. Ông đứng ở bên lề, trên miền đất Kaiserborstel và viết thơ về “Ngọn gió Tây Nam” và “Ánh sáng ma trơi trên đồng vừa gặt trụi.”

Nếu như kết vần, thơ Kunert đôi khi có hơi hướng Erich Kästner (7), cũng như vậy vỡ mộng, tinh quái và hướng về đạo đức. Một tập mang tiêu đề “Khi cuộc đời đi không”, với cái nghĩa kép đẹp. “Từ vương quốc bóng đen của tôi” là tên một tập khác. Sự khôi hài kết cục đã rời tập thơ đi mất – và cả nhiều sức lực. Trên đất này chúng ta chỉ là một người khách. Những con đường lầm lạc, đường vòng của một con đường về nhà duy nhất và độc nhất. Dòng cuối cùng thành hoàn toàn nhỏ bé.

Trong thời corona, việc một nhà thơ trữ tình quan trọng như vậy tin rằng không để lại gì dấu vết gây xúc động lạ lùng. Vì những nẻo “phủ nhận vết in của đế giày”. Những người già rồi chết đi, những cụ tuổi chín mươi còn có thể kể cho chúng ta đôi điều. Cùng với họ chết đi một mẩu lịch sử Đức. Chúng ta cần chăm chú nghe họ, cũng như ta cần đọc Kunert đã tạ thế trong năm qua. Để lịch sử khỏi cuốn đi như tờ lịch cuối cùng trong gió.

Nguồn: Frankfurter Anthologie

NGƯỜI DU KHÁCH NGOÁI NHÌN VỀ PHÍA SAU

Günter Kunert (1929 – 1919)

Người du khách ngoái nhìn về phía sau
ngỡ ngàng về chặng đường
bỏ lại, những dặm qua không đếm,
những con phố dài vô tận, những lối cô đơn,
phủ nhận đi những vết đế giày in.
Tất cả, những đường lầm lỡ, đường vòng của
một con đường về nhà duy nhất. Cuối cùng
thế đấy cánh cửa sập đóng vào ổ khóa,
tờ lịch cuối cùng thả buông theo gió,
kiệt sức qua những gắng gổ
của những thời hối hả
như tôi.

Nguyên tác tiếng Đức:

DER REISENDE BLICKT ZURÜCK

Günter Kunert (1929 – 1919)

Der Reisende blickt zurück
verwundert über die zurückgelegte
Strecke, die ungezählten Meilen,
die endlosen Straßen, die einsamen Pfade,
die den Abdruck der Sohlen verleugnen.
Alles Irrwege, Umwege des einen
und einzigen Heimwegs. Am Ende
fällt doch die Tür ins Schloss,
verweht das letzte Kalenderblatt,
kraftlos durch die Mühen
der hastigen Zeiten
wie ich.

Chú thích của người dịch:

(1) Gottfried Benn (1886-1956): Bác sĩ, nhà thơ và nhà tiểu luận Đức.

(2) Wolf Biermann (sinh năm 1936): Nhà thơ, ca sĩ, nhà viết tiểu luận. Việc tước đoạt quốc tịch Wolf Biermann đẩy ông sang Tây Đức vào năm 1976 gây ra sự phản kháng rộng lớn trong giới trí thức và sinh viên hai miền nước Đức, và từ đó ông như biểu tượng cho giới trí thức phê phán chế độ, phản kháng chủ nghĩa toàn trị ở Cộng hòa Dân chủ Đức.

(3) SED: Đảng XHCN thống nhất Đức – đảng cộng sản nắm quyền tại CHDC Đức

(4) Johannes Becher (1891-1958); Nhà thơ phái Biểu hiện, chính trị gia, Bộ trưởng Bộ văn hóa CHDC Đức.

(5) Jean Améry (1912-1978): Nhà văn Áo.

(6) Khái niệm được các nhà lý luận của đảng SED đưa ra, nhắm khẳng định bản sắc chế độ XHCN của CHDC Đức.

(7) Erich Kästner (1899-1978): Nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch Đức.

Christian Gampert (sinh năm 1964, học ngữ văn, triết học và xã hội học): Nhà báo tự do.

Günter Kunert (1929-2019): Nhà thơ, nhà văn Đức.

Tiểu sử: Dưới thời quốc xã học hết Tiểu học, không được học cao hơn vì mẹ người Do Thái. Sau thế chiến học trường Cao đẳng Nghệ thuật tạo hình tại Đông Berlin, vào đảng SED. 1973 được mời thỉnh giảng tại University of Texas, 1975 tại University of Warwick (Anh).

Thuộc về những người đầu tiên ký kháng thư phản đối việc tước quốc tịch nhà thơ, ca sĩ Wolf Biermann, ông bị tước đảng tịch. 1979 rời bỏ CHDC Đức, định cư và lập nghiệp tại Karborstel.

Günter Kunert là một trong những nhà văn đương đại đa năng và quan trọng nhất. Ngoài thơ, truyện ngắn và truyện kể, tiểu luận, ký sự, cách ngôn, cổ tích, châm biếm, du ký, kịch tương thanh, ông còn viết nhiều bài giới thiệu các tác gia, và vẽ tranh.

Ông nhận nhiều giải thưởng, có thể kể một số: Giải thưởng Heinrich Mann (DDR, 1962), Giải thưởng Heinrich Heine (1985), Giải thưởng Friedrich Hölderlin (1991), Giải thưởng viết tiểu luận Ernst Robert Curtius (1991), Giải thưởng Georg Trakl (1997), Giải thưởng của Hợp tuyển Frankfurt (2011).

Tranh của Bùi Xuân Phái (1920-1988): Vietnamese Painter.

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2021

Người du khách ngoái nhìn về phía sau

Günter Kunert (1929 – 2019)   



Người du khách ngoái nhìn về phía sau
ngỡ ngàng về chặng đường
bỏ lại, những dặm qua không đếm,
những con phố dài vô tận, những lối cô đơn,
phủ nhận đi những vết đế giày in.
Tất cả, những đường lầm lỡ, đường vòng của
một con đường về nhà duy nhất. Cuối cùng
thế đấy cánh cửa sập đóng vào ổ khóa,
tờ lịch cuối cùng thả buông theo gió,
kiệt sức qua những gắng gổ
của những thời hối hả
như tôi.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Der Reisende blickt zurück

Günter Kunert (1929 – 1919)

Der Reisende blickt zurück
verwundert über die zurückgelegte
Strecke, die ungezählten Meilen,
die endlosen Straßen, die einsamen Pfade,
die den Abdruck der Sohlen verleugnen.
Alles Irrwege, Umwege des einen
und einzigen Heimwegs. Am Ende
fällt doch die Tür ins Schloss,
verweht das letzte Kalenderblatt,
kraftlos durch die Mühen
der hastigen Zeiten
wie ich.

Chú thích của người dịch:

Günter Kunert (1929-2019): Nhà thơ, nhà văn Đức.
Tiểu sử: Dưới thời quốc xã học hết Tiểu học, không được học cao hơn vì mẹ người Do thái. Sau thế chiến học trường Cao đẳng Nghệ thuật tạo hình tại Đông Berlin, vào đảng SED. 1973 được mời thỉnh giảng tại University of Texas, 1975 tại University of Warwick (Anh).
Thuộc về những người đầu tiên ký kháng thư phản đối việc tước quốc tịch nhà thơ, ca sĩ Wolf Biermann, ông bị tước đảng tịch. 1979 rời bỏ CHDC Đức, định cư và lập nghiệp tại Karborstel.
Günter Kunert là một trong những nhà văn đương đại đa năng và quan trọng nhất. Ngoài thơ, truyện ngắn và truyện kể, tiểu luận, ký sự, cách ngôn, cổ tích, châm biếm, du ký, kịch tương thanh, ông còn viết nhiều bài giới thiệu các tác gia, và vẽ tranh.

Ông nhận nhiều giải thưởng, có thể kể một số: Giải thưởng Heinrich Mann (DDR, 1962), Giải thưởng Heinrich Heine (1985), Giải thưởng Friedrich Hölderlin (1991), Giải thưởng viết tiểu luận Ernst Robert Curtius (1991), Giải thưởng Georg Trakl (1997), Giải thưởng của Hợp tuyển Frankfurt (2011).

Tranh Edvard Munch (1863 – 1944): Họa sĩ, nhà đồ họa Na Uy. Tác phẩm được xếp vào phái Biểu tượng (Symbolism), nhưng những đóng góp cách tân của họa sĩ khai phá cho chủ nghĩa Biểu hiện trong Nghệ thuật tạo hình hiện đại.

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2021

Bài thơ „Người chơi múa rối“ của Nelly Sachs

Mathias Mayer     


Nelly Sachs đã đưa vào cả một tổ khúc„ Chữ đề bia mộ viết vào thinh không“ in năm 1947 bao gồm cả bài thơ ta có dưới đây vào tập thơ đầu tay của mình „Trong những căn hộ của tử thần“. Vài phần của tổ khúc đã được viết vào năm 1942/1943 khi bà đang tỵ nạn tại Thụy Điển, sau lúc bà biết mình mất đi những người thân quyến. Một thời gian ngắn sau, tác giả bình luận về sự ra đời các văn bản đó: „Nhưng trong một bí mật to lớn những bi ca này đã tự tìm đến tôi.“ „Người chơi múa rối“ được ghi thời gian ra đời khoảng giữa 1943 và 1946.

Hẳn ta không biết về người chơi múa rối hiện diện bằng tên viết tắt – hay đó là một người đàn bà -, trong ký tự chữ in hoa thậm chí có hai biến thể lưu truyền nữa, bên cạnh „K.G.“ còn có một ký tự „P.M.“, và khác biệt với những bi ca khác, nữ tác giả không bật mí hay giải thích gì thêm về văn bản này. Nhưng mà chúng ta biết Nelly Sachs trong thời kỳ đầu của mình, bên cạnh thơ và những truyện huyền sử bản thân bà cũng viết cả kịch bản rối theo phong cách của Selma Lagerlöf, nhà văn bà hằng ngưỡng mộ. Sáu khổ thơ, thoạt đầu kết nối những thế giới hình ảnh hiện ra khác biệt nhau như vậy, qua lời xưng nói tới Bạn đã được sắp đặt, chúng cấp cho khung viền. Hai khổ thơ đầu và khổ thơ cuối hướng về người được nhắc tới trong title, chúng đứng trong cuộc đối thoại với người đó bị cưỡng về câm lặng, điếu văn và bi ca gồm trong một.

Bi ca về thế giới rộng dài và một bàn tay nhỏ bé

Nếu trước hết nói về chuyện người đó khả dĩ níu kéo „thế giới dài rộng“ tới gần mình bằng cách gọi lên những con đường về xa xôi, thì lập tức ở khổ thơ thứ hai hiện ra nghệ thuật lớn lao của người chơi trò múa rối: những gì anh ta đã đạt đến, được miêu tả như „một cột mốc“, đó chính là sức lực và ma thuật của việc làm cô đọng thế giới rộng dài vào một thế giới nhỏ của những con giống nghệ thuật. Anh ta đã dệt „sợi dây mặt trời“ của nghệ thuật riêng mình, một hình ảnh hiếm khi được sử dụng, được tìm thấy nơi Schiller(1), rõ ràng được xác chứng trong bài „Bi ca“ của ông. Liệu Paul Celan(2), người hàng thập niên sau này in dấu ấn vào chữ „mặt trời ròng sợi“ và thậm chí đặt tiêu đề bao trùm như vậy cho tập thơ của mình đã nghĩ tới mối liên quan đó?

Ba khổ giữa phác thảo ba hoạt cảnh từ những địa hạt khác nhau, hiển nhiên hiện diện trong trò chơi múa rối – thế giới của Kinh Cựu Ước với nhà tiên tri Elijah, kế đó cuộc gặp gỡ kinh ngạc giữa cuộc đời và cái chết, giữa người trinh nữ trong „chiều tối hoa hồng“ và người phu đào huyệt; kết cục sự nỗ lực tìm cách hợp nhất thiện cảm và đau thương trong mỉm cười và than khóc như là nghiệm trải của tình yêu. Có thể ở đây có một mối liên quan với vở kịch múa rối của Nelly Sachs viết thời kỳ đầu không xuất bản, sau tìm thấy trong di cảo: „Elia và những kẻ đang yêu“.
Ở phần kết, nhằm đánh giá nghệ thuật lớn lao này bài thơ quay trở về trong điều nhỏ mọn: thế giới rộng dài hiện ra như „trái đất xoay tròn với nhạc của các tinh tú" trong màn diễn của người nghệ sĩ biết dùng bàn tay của mình nắm bắt ma thuật của thế giới; âm nhạc của các tầng quyển, của các vì sao chỉ dẫn về tính cách tác động hòa phối, càng được ám chỉ qua nét tròn trịa, của anh ta, một tác động đã bị tội ác, một cách tàn bạo, dồn về câm lặng. Bài thơ nơi đó như lời than oán cũng như một phản kháng chống lại sự im lặng, bài thơ là một hồi tưởng và tưởng thưởng, chứng chỉ của một sự công nhận đã biến một cột mốc thành dòng bia đề mộ, thành một ngôn ngữ chiết giản. 

Đồng thời bài thơ gọi lên truyền thống lớn của trò chơi múa rối trong mọi nền văn hóa lắng đọng lại thành một trò diễn trên ranh giới giữa Cái chết và Cuộc đời – như một cuộc gặp gỡ giữa thân thể vẻ như không sự sống, không lời của búp bê hay của con rối và câu hỏi liên đới tới sự điều khiển chúng thông qua người đạo diễn hay người chơi trò múa rối. Ngay từ những đối thoại luật pháp „Nomo“ của Platon (3), ở đó cũng luôn xoay quanh sự tồn tại của con người, câu tra vấn về sự lệ thuộc và tự do, về đạo hạnh hay sự thanh nhã nơi hành động của nó, tỉ dụ như trong nỗ lực vô song của Kleist(4) viết „Về nghệ thuật kích rối“, hoặc về mối tương tác của ngôn ngữ và im lặng. Trong bài thơ của Nelly Sachs, mối liên quan này đã trở thành cột mốc của một hồi tưởng, một bi ca về cuộc hội thoại bị phá hủy giữa thế giới rộng dài và một bàn tay nhỏ bé.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài viết từ Hợp tuyển Frankfurt – Frankfurter Anthologie.

Người chơi múa rối

Nelly Sachs (1891 – 1970)

Cái thế giới rộng dài đã tới nơi bạn
Với cát trong giày, và vẻ trên má xa xăm.

Ở dây sợi mặt trời bạn kéo nó vào trong
Thế giới ngủ trên cột mốc của bạn đây đó.

Trong búi tóc Elijah con én đã xây tổ của mình
Cho đến lúc tan tành trong thương nhớ.

Người đào mộ đào tới tìm bài đố
Tìm thấy một trinh nữ trong chiều hoa hồng.

Một cặp sinh đôi từ cười nụ và khóc ròng
Gắng tìm cách trong tình yêu hợp nhất.

Với nhạc của tinh tú khiêu vũ xoay tròn trái đất
Như vậy trên tay anh, tới khi bị ruồng bỏ nín câm.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Der Marionettenspieler

Nelly Sachs (1891 – 1970)

Die weite Welt war zu dir eingegangen
Mit Sand im Schuh und Ferne an den Wangen.

Am Sonnenfaden zogst du sie herein
Da ruhte sie auf deinem Meilenstein.

Die Schwalbe baute in Elias Haaren
Ihr Nest; bis er in Sehnsucht aufgefahren.

Der Totengräber nach dem Rätsel grabend
Fand eine Jungfrau in dem Rosenabend.

Das Zwillingspaar aus Lächeln und aus Weinen
Versuchte sich in Liebe zu vereinen.

So tanzte Erde rund mit ihrer Sternmusik
Auf deiner Hand; bis sie verlassen schwieg.

Chú thích của người dịch:

Mathias Mayer (sinh năm 1958): Nhà nghiên cứu ngữ văn Đức
(1) Johann Christoph Friedrich von Schiller (1759-1805): Thi hào Đức, kịch tác gia, nhà triết học và nhà sử học.
(2) Paul Celan (Paul Antschel, 1920-1970): Nhà thơ viết tiếng Đức, gốc Do thái.
(3) Tác phẩm dang dở gồm những đối thoại luật pháp của Platon.
(4) Bernd Heinrich Wilhelm von Kleist (1777 - 1811): Kịch tác gia, nhà thơ, nhà văn Đức. 

Nelly Sachs: (tên khai sinh Leonie Sachs, sinh năm 1891 tại Berlin – mất 1970 tại Stockholm): Nữ thi sĩ và nhà văn Đức (gốc Do thái, sau bà mang quốc tịch Thụy điển). Năm 1966 Hội đồng Nobel Hòang gia Thụy điển trao giải Nobel văn chương cho bà (cùng nhận với Samuel Joseph Agnon) vì“ những tác phẩm thơ và kịch tuyệt vời phu diễn số phận Israel với một bút pháp mạnh mẽ lôi cuốn.“

Tranh Gerhard Richter, sinh năm 1932, họa sĩ, nhà điêu khắc Đức (được nhiều hội đồng chuyên môn danh tiếng đánh giá là họa sĩ quan trọng số 1 của thế giới đương đại).

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2021

Người chơi múa rối

Nelly Sachs (1891 – 1970) 



Cái thế giới rộng dài đã tới nơi bạn
Với cát trong giày, và vẻ trên má xa xăm.

Ở dây sợi mặt trời bạn kéo nó vào trong
Thế giới ngủ trên cột mốc của bạn đây đó.

Trong búi tóc Elijah con én đã xây tổ của mình
Cho đến lúc tan tành trong thương nhớ.

Người đào mộ đào tới tìm bài đố
Tìm thấy một trinh nữ trong chiều hoa hồng.

Một cặp sinh đôi từ cười nụ và khóc ròng
Gắng tìm cách trong tình yêu hợp nhất.

Với nhạc của vì sao, trong điệu vũ xoay tròn trái đất
Như vậy trên tay anh, tới khi bị ruồng bỏ nín câm.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Der Marionettenspieler

Nelly Sachs (1891 – 1970)

Die weite Welt war zu dir eingegangen
Mit Sand im Schuh und Ferne an den Wangen.

Am Sonnenfaden zogst du sie herein
Da ruhte sie auf deinem Meilenstein.

Die Schwalbe baute in Elias Haaren
Ihr Nest; bis er in Sehnsucht aufgefahren.

Der Totengräber nach dem Rätsel grabend
Fand eine Jungfrau in dem Rosenabend.

Das Zwillingspaar aus Lächeln und aus Weinen
Versuchte sich in Liebe zu vereinen.

So tanzte Erde rund mit ihrer Sternmusik
Auf deiner Hand; bis sie verlassen schwieg.

Chú thích của người dịch:

Nelly Sachs: (tên khai sinh Leonie Sachs, sinh năm 1891 tại Berlin – mất 1970 tại Stockholm): Nữ thi sĩ và nhà văn Đức (gốc Do thái, sau bà mang quốc tịch Thụy điển). Năm 1966 Hội đồng Nobel Hòang gia Thụy điển trao giải Nobel văn chương cho bà (cùng nhận với Samuel Joseph Agnon) vì“ những tác phẩm thơ và kịch tuyệt vời phu diễn số phận Israel với một bút pháp mạnh mẽ lôi cuốn.“

Tranh của Paul Klee (1879-1940) : Họa sĩ, nhà đồ họa Đức, tác phẩm tiền phong, đa dạng có thể xếp vào nhiều trường phái Biểu hiện (Expressionism), Kết dựng (Construktivism), Lập thể (Cubism) Hoang dại (Primitivism) và Siêu thực (Surrealism).

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2021

Bài thơ „Nghiệm trải cái chết“ của Rainer Maria Rilke

Oliver Vogel


Bài thơ này của Rainer Maria Rilke vô danh khắc trên mộ chí của nữ nam tước Uexküll. Đến thăm bia mộ trên đảo Capri, đột nhiên người ta hiểu ra ý nghĩa của những câu thơ đó. Ai nhận mình đi tới Capri, người ấy cũng sẽ xao xuyến trong lòng về một mặt trời đỏ hạ chìm xuống biển. Thì thực sự người ta phải gắng công mới tìm thấy yên tĩnh trên hòn đảo; hoàn toàn chắc chắn không ở gần bến cảng Marina Grande, nơi có những con phà từ Neapel đến neo đậu. Băng qua con đập, nhìn về xa tắp sẽ tới Cimitero Acattolico, nghĩa trang của những người xa lạ.

Ở đây, từ cuối những năm 60, nữ nam tước Gudrun Baronin Uexküll yên nghỉ dưới một bia mộ, trên đó người ta có thể đọc được bài thơ „Nghiệm trải cái chết“ của Rilke không ghi tiêu đề và tên tác giả. Nếu nữ nam tước, từ vị trí ngôi mộ của mình có thể nhìn được thứ gì đấy, hẳn bà có thể phóng tầm mắt nhìn khắp bầu trời xanh dương phi thực của vịnh Neapel, đằng sau được trấn giữ bởi vòm cầu của núi lửa Vesuvius. Đây là một chốn phong cảnh đẹp nhưng ầm ào tiếng động, nơi ngay lập tức người ta hiểu nỗi nhớ mong sự yên tĩnh và thực tại của một cuộc đời khác mà bài thơ đề cập đến. Năm 1907, Rilke đã viết bài thơ tưởng niệm bà mẹ của nữ nam tước đã mất một năm trước. Năm ấy ông 37 tuổi, người cha ông đã mất trước đó nửa năm, và từ 7 tháng nay ông chia tay với Rodin- người thầy dạy của mình và người ông đã dành một quãng thời gian giúp việc.

Vài tuần lễ kéo dài Rilke đã sống bên những người bạn trên đảo Capri. Nữ nam tước, người cho khắc „Nghiệm trải cái chết“ trên bia mộ của mình rõ ràng muốn để lại cho người sống một sứ điệp. Bởi vì trong bài thơ này, trước hết mọi điều không liên quan tới cái chết. Bài thơ xoay quanh cuộc đời. Bài thơ của Rilke nói tới chúng ta và muốn vừa ý. Bài thơ giải hòa chúng ta với sự bất an do cái chết của người khác gây ra, và với một hình thức nghiêm ngặt phân định lại ở phía bên này. Thông qua phép chấm câu, khổ thơ trung tâm thứ ba khai mở. Khổ này đề cập tới một hiện thực chỉ một lần giữa cuộc đời hiển lộ. Nhưng mà làm sao có thể giải thích được, rằng „Nghiệm trải cái chết“ phê phán cái vẻ sân khấu của hiện thực như một nhược điểm điệu bộ và cũng trong cùng một hơi thở bày ra vẻ đẹp và sự phô diễn hình thức rõ nét như vậy? Sau khi hiện thực của cái chết chiếu hắt vào, làm sao lại có thể thành ra „ Chúng tôi diễn tiếp“ vậy? Mang tính quyết định là một khác biệt tinh tế: Ban đầu chúng ta đóng diễn các vai, nhưng cuối cùng của bài thơ ấy lại chính cuộc đời. Và vở chơi còn mãi.

Bị cuốn theo diễn vở cuộc đời

Đối với Friedrich Schiller, „thú vui ở vẻ ngoài, chí hướng ham chơi“ như cầu nối giữa Tư duy và Cảm thụ. Wilhelm Dilthey còn đi xa hơn: Tuy thế giới bên ngoài sẵn bày ra như một sự xuất hiện, mà thế chỉ tới trong trải nghiệm thế giới mới trở thành hiện thực cho ý thức, với tư cách là thực tại không thể tách rời khỏi kinh nghiệm. Một trải nghiệm như vậy là cái chết: Nếu như ai đó chết, nếu như người đó biến đi, rất dễ có suy nghĩ rằng, chẳng chỉ riêng con người này, mà tựu trung lại không có gì, cái rỗng không, thực sự tồn tại. Và bằng cách chúng ta hình dung ra điều đó, „với sức mạnh không sao cưỡng nổi, thực tại đã hiện ra ngay trước chúng ta“. Đó là ý tưởng của bài thơ: Kinh nghiệm về cái chết là một nghiệm trải nối liền thế giới bên ngoài với ý thức, và tư duy với cảm thụ. Như thế màu xanh diệp lục trong bài thơ không chỉ trích xuất những cung bực sáng tối khác biệt nhất của vịnh Neapel – từ „màu xanh tối ve chai“ tới „xanh sáng“, như Rilke miêu tả trong bút ký từ đảo Capri. Ông cũng còn gọi lên những suy tưởng mang tính lý thuyết nhận thức của quỉ Mephistopheles: „ Này anh bạn, mọi lý thuyết đều là màu xám/ Và xanh tươi cây vàng kim cuộc đời“ giải thích sự khác biệt giữa lý trí và cảm xúc, giữa trường học và cuộc đời, sự khác biệt giữa xanh (diệp) và „xanh của xanh chân thực“.

Nghiệm trải cái chết có nghĩa là hiểu cuộc đời trong những liên quan của nó.“ Làm sao có thể sống được?“, Rilke vấn hỏi trong một bức thư, „nếu như, với chúng ta, những nguyên tố của cuộc đời lại hoàn toàn không nắm bắt được? Nếu như chúng ta cứ liên tiếp thiếu thốn trong yêu đương, thiếu tự tin trong quyết định và bất lực đương đầu với cái chết, thử hỏi làm sao có thể tồn tại được“. Làm sao chúng ta có thể đảm đương những nhiệm vụ chúng ta có trong đời „ một cách lúng túng như kẻ mới vào cuộc, giữa những sự hốt hoảng và biện bạch, một cách thảm hại làm vậy. Có phải điều đó không sao nắm bắt được hay không?“. Điều này nguyên còn là điều không thể tri nhận như vẻ đẹp phi hiện thực của đảo Capri, thứ Rilke thoạt đầu hầu như không thể chịu nổi trong khoảng thời gian của những cuộc chia ly này. Mãi về sau này ông mới nói về chuyện ông „ dạo đó bằng một cách nào cơ hồ đã lấy lại sức cho nhiều năm tiếp“. Có vẻ như, nếu như mặt trời đỏ lặn chìm xuống biển xanh lục, người ta học cách bị cuốn theo diễn vở cuộc đời. 

Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Nghiệm trải cái chết

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Chúng tôi biết cái bằng không về cuộc đi tuyệt tận đó,
chẳng chia sẻ cùng. Chúng tôi chẳng có nguyên do
chỉ ra ngưỡng mộ và tình yêu hay oán thù
cho thần chết bị cái miệng che mặt nạ

của than vãn bi thương làm biến dạng đi kỳ lạ
thế giới còn đầy vai chúng tôi đóng trò,
chừng nào lo, liệu chúng tôi cũng vừa ý cho
thần chết cũng diễn trò, dẫu hắn không vừa ý.

Mà thế khi anh đi, đây đó hắt vào sân khấu
một vệt hiện thực qua khe nọ mỏng manh
anh đã đi qua tới đó; xanh của thực sự xanh,
nắng chân thực và rừng chân thực.

Chúng tôi diễn tiếp. Xướng lên điều học được
một cách dè dặt, gian nan, và sau sẽ đến thời,
vượt qua cử chỉ; nhưng sự Tồn thế của anh xa vời
nảy sinh từ vở diễn của chúng tôi, thư thoảng

có thể lay chuyển chúng tôi, như một sự hiểu biết
về hiện thực nọ, đang chìm xuống hạ màn,
khiến hồi lâu chúng tôi cuốn theo làn,
diễn vở cuộc đời, không nghĩ về tán thưởng.

Nguyên tác tiếng Đức

Todes-Erfahrung

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Wir wissen nichts von diesem Hingehn, das
nicht mit uns teilt. Wir haben keinen Grund,
Bewunderung und Liebe oder Hass
dem Tod zu zeigen, den ein Maskenmund

tragischer Klage wunderlich entstellt.
Noch ist die Welt voll Rollen, die wir spielen.
Solang wir sorgen, ob wir auch gefielen,
spielt auch der Tod, obwohl er nicht gefällt.

Doch als du gingst, da brach in diese Bühne
ein Streifen Wirklichkeit durch jenen Spalt
durch den du hingingst: Grün wirklicher Grüne,
wirklicher Sonnenschein, wirklicher Wald.

Wir spielen weiter. Bang und schwer Erlerntes
hersagend und Gebärden dann und wann
aufhebend; aber dein von uns entferntes,
aus unserm Stück entrücktes Dasein kann

uns manchmal überkommen, wie ein Wissen
von jener Wirklichkeit sich niedersenkend,
so dass wir eine Weile hingerissen
das Leben spielen, nicht an Beifall denkend.

Chú thích của người dịch:

Oliver Vogel (sinh năm 1966): Phụ trách chương trình văn học Đức, giám đốc nhà xuất bản FS. Fischer.

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Henri Matisse (1869-1954): Họa sĩ, nhà đồ họa, nhà điêu khắc Pháp, sáng lập phái Dã thú.

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2021

Nghiệm trải cái chết

Rainer Maria Rilke (1875-1926)



Chúng tôi biết cái bằng không về cuộc đi tuyệt tận đó,
chẳng chia sẻ cùng. Chúng tôi chẳng có nguyên do
chỉ ra ngưỡng mộ và tình yêu hay oán thù
cho thần chết bị cái miệng che mặt nạ 

của than vãn bi thương làm biến dạng đi kỳ lạ
thế giới còn đầy vai chúng tôi đóng trò,
chừng nào lo, liệu chúng tôi cũng vừa ý cho
thần chết cũng diễn trò, dẫu hắn không vừa ý.

Mà thế khi anh đi, đây đó hắt vào sân khấu
một vệt hiện thực qua khe nọ mỏng manh
anh đã đi qua tới đó; xanh của thực sự xanh,
nắng chân thực và rừng chân thực. 

Chúng tôi diễn tiếp. Xướng lên điều học được
một cách dè dặt, gian nan, và sau sẽ đến thời,
vượt qua cử chỉ; nhưng sự Tồn thế của anh xa vời
nảy sinh từ vở diễn của chúng tôi, thư thoảng

có thể lay chuyển chúng tôi, như một sự hiểu biết
về hiện thực nọ, đang chìm xuống hạ màn,
khiến hồi lâu chúng tôi cuốn theo làn,
diễn vở cuộc đời, không nghĩ về tán thưởng.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Todes-Erfahrung

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Wir wissen nichts von diesem Hingehn, das
nicht mit uns teilt. Wir haben keinen Grund,
Bewunderung und Liebe oder Hass
dem Tod zu zeigen, den ein Maskenmund

tragischer Klage wunderlich entstellt.
Noch ist die Welt voll Rollen, die wir spielen.
Solang wir sorgen, ob wir auch gefielen,
spielt auch der Tod, obwohl er nicht gefällt.

Doch als du gingst, da brach in diese Bühne
ein Streifen Wirklichkeit durch jenen Spalt
durch den du hingingst: Grün wirklicher Grüne,
wirklicher Sonnenschein, wirklicher Wald.

Wir spielen weiter. Bang und schwer Erlerntes
hersagend und Gebärden dann und wann
aufhebend; aber dein von uns entferntes,
aus unserm Stück entrücktes Dasein kann

uns manchmal überkommen, wie ein Wissen
von jener Wirklichkeit sich niedersenkend,
so dass wir eine Weile hingerissen
das Leben spielen, nicht an Beifall denkend.

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.
Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Albert Marquert (1875 – 1947): Họa sĩ Pháp, đồng sáng lập phái Dã thú (Fauvism) trong Hội họa.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...