Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2020

Kiêu kỳ

Heinrich Heine (1797-1856)     



Ôi nữ bá tước Güdel von Gudefeld
Nhân loại tung hô, vì cô có bạc tiền
Cô sẽ rong ruổi xe tứ mã
Ở cung đình người ta sẽ xướng tên.
Cỗ xe vàng sẽ chở cô đi đến
Lâu đài thắp sáng lung linh nến;
Chiếc váy dài sột soạt, lên dần
Theo bậc thang cẩm thạch, mỗi bước chân;
Trên đó người hầu sắp hàng, hét váng:
- Mừng công nương Gudelfeld phu nhân.

Kiêu hãnh cầm trên tay chiếc quạt,
Cô thong dong lướt qua những căn phòng
Vách trổ kiểu Bruychxen, chất nặng bên trong
Kim cương và ngọc trai kết đính.
Và bầu ngực trắng của cô núng nính.
Và trào dâng lên nỗi vui tươi
Đó là cái gật đầu và một nụ cười!
Và nhún mình và gập người sâu xuống!
Kìa nữ hầu tước Von Pavia
Bà gọi cô: Cara mia!
Các công tử và những người thuộc hạ
Bọn họ đều muốn nhảy với cô.
Tính tếu táo, người thừa kế ngôi vua
Gọi to lên trong sảnh phòng: Siêu việt
Gudelfeld! Nàng lắc mông hay tuyệt.

Thảm thương thay cô nay mai không tiền bạc
Cả thế gian xa lánh quay lưng.
Lũ học đòi và đám bê bưng
Nhổ vào chiếc váy dài xúng xính
Thay vì món cá mòi và cưng nịnh
Chỉ có toàn hỗn xược, bỉ bai
Bà Cara mia làm dấu thánh cầu may,
Vị thái tử kêu lên và hỉ mũi:
Cái cô Gudelfeld sực lên mùi tỏi.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Kiêu kỳ từ chùm Zur Olla của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Hoffart

Heinrich Heine (1797-1856)

O Gräfin Güdel von Gudelfeld,
Dir huldigt die Menschheit, denn du hast Geld!
Du wirst mit Vieren kutschieren,
Man wird dich bei Hof präsentieren.
Es trägt dich die goldne Karosse
Zum kerzenschimmernden Schlosse;
Es rauschet deine Schleppe
Hinauf die Marmortreppe;
Dort oben, in bunten Reihen,
Da stehen die Diener und schreien:
Madame la comtesse de Gudelfeld.

Stolz, in der Hand den Fächer,
Wandelst du durch die Gemächer.
Belastet mit Diamanten
Und Perlen und Brüsseler Kanten,
Dein weißer Busen schwellet
Und freudig überquellet.
Das ist ein Lächeln und Nicken
Und Knicksen und tiefes Bücken!
Die Herzogin von Pavia,
Die nennt dich: Cara mia.
Die Junker und die Schranzen,
Die wollen mit dir tanzen;
Und der Krone witziger Erbe
Ruft laut im Saal: Süperbe
Schwingt sie den Steiß, die Gudelfeld!

Doch, Ärmste, hast du einst kein Geld,
Dreht dir den Rücken die ganze Welt.
Es werden die Lakaien
Auf deine Schleppe speien.
Statt Bückling und Scherwenzen
Gibts nur Impertinenzen.
Die cara mia bekreuzt sich,
Und der Kronprinz ruft und schneuzt sich:
Nach Knoblauch riecht die Gudelfeld.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Jean-Auguste-Dominique Ingres (1780 – 1867): Họa sĩ Pháp

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2020

Giống lừa la

Heinrich Heine (1797-1856)   

Tranh của © Franz Marc (1880-1916)

Ai cũng biết, cha mi - người tốt bụng
Đáng tiếc thay là một con lừa,
Nhưng mẹ mi cao ngạo có thừa
Một ngựa cái máu dòng cao quí.

Bất chấp mi hết mực chống chế,
Thực tế mi là giống lừa la,
Khá được quyền mi cứ nói ra,
Rằng mi đây thuộc về phía ngựa.

Rằng mi dòng Bucephal (1) mã tộc
Chiến mã tự hào, những bậc tổ tiên
Mang giáo khiên tới nấm mồ thiêng
Theo lá cờ thập tự chinh ngoan đạo.

Rằng thuộc về tổ tông mi nữa
Kể cả con thiên lý mã bay cao,
Gottfried von Bouillon (2) cưỡi ngày nào
Khi ngài giành được miền đất Chúa.

Cũng có thể nói, cái con chiến mã
Của Bayard là anh em đồng hao,
Bà cô chở Don Quixote hiệp sĩ
Là Rosinante (3) rất mực anh hào.

Đương nhiên, con lừa của Sancho (4) cũng
Có họ với mi, chẳng phải nói nhiều;
Chối bỏ đi cả con lừa bé teo!
Xưa từng mang trên lưng Đấng Cứu Thế!

Và cũng không cần mau mắn nhé
Khắc cái tai dài vào phù hiệu của mi,
Hãy là con lừa đúng giá của mi đi
Mi cao giá, như mi tự đánh giá.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Giống lừa la - Maultiertum từ chùm Zur Ollea của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Maultiertum

Heinrich Heine (1797-1856)

Dein Vater, wie ein jeder weiß,
Ein Esel leider war der Gute;
Doch deine Mutter, hochgesinnt,
War eine edle Vollblutstute.

Tatsache ist dein Maultiertum,
Wie sehr du dessen dich erwehrest;
Doch sagen darfst du guten Fugs,
Daß du den Pferden angehörest, -

Daß du abstammst vom Bucephal,
Dem stolzen Gaul, daß deine Ahnen
Geharnischt nach dem heilgen Grab
Gefolgt den frommen Kreuzzugfahnen, -

Daß du zu deiner Sippschaft zählst
Den hohen Schimmel, den geritten
Herr Gottfried von Bouillon, am Tag,
Wo er die Gottesstatt erstritten; -

Kannst sagen auch, daß Roß-Bayard
Dein Vetter war, daß deine Tante
Den Ritter Don Quixote trug,
Die heldenmütge Rosinante.

Freilich, daß Sanchos Grauchen auch
Mit dir verwandt, mußt du nicht sagen;
Verleugne gar das Eselein,
Das unsern Heiland einst getragen.

Auch ist nicht nötig, daß du just
Ein Langohr in dein Wappen setzest.
Sei deines eignen Werts Wardein -
Du giltst so hoch, wie du dich schätzest.

Chú thích của người dịch:

(1) Con thiên lý mã của Alexander Đại đế.
(2) Gottfried von Bouillon (1050-1100): Nhà chỉ huy quân sự của cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất, trở thành vị Tổng tài sau khi đánh chiếm Jeruralem.
(3) Con ngựa gầy còm cao lênh khênh của Don Quixote với cái tên rất kêu Rocinante (dũng mãnh nhất trong các loài ngựa).
(4) Sancho Panza đi theo Don Quixote, một bác nông dân lùn tịt, bụng phệ, cưỡi trên lưng con lừa mập lùn tên là Dapple.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Franz Marc (1880-1916): Họa sĩ biểu hiện Đức (1880-1916), cùng với Wassily Kandinsky lập ra nhóm Kỵ mã xanh.

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2020

Vua Harald Harfagar

Heinrich Heine (1797-1856)   



Ngồi dưới đó sâu nơi đáy biển
Ấy nhà vua Harald Harfagar
Bên tiên nữ của mình xinh đẹp;
Đến rồi đi cứ thế năm qua.

Bị phép tiên lưu đày và bao bọc
Vua không thể sống, chết chẳng xong
Đằng đẵng suốt hai trăm năm ròng
Tâm hồn của nhà vua tàn tạ.

Đầu nhà vua gối lên lòng tiên cá -
Người đàn bà quí phái, và ngước nhìn
Lên mắt nàng, với vẻ khát thèm
Như thể chưa bao giờ ngắm đủ.

Tóc vua vàng thành tro xám ủ
Gương mặt võ vàng nay đã nhô ra
Hai lưỡng quyền mang vẻ quỉ ma
Cơ thể vua héo khô và rệu rã.

Thư thoảng lúc nhà vua bất chợt
Bị dựng lên khỏi giấc mộng tình
Bởi trên kia sóng triều tung hoang dại
Và lâu đài bằng kính rùng mình.

Thư thoảng vua cảm như nghe trong gió
Tộc người Norman gọi vọng về
Vua giơ tay sướng vui hấp tấp
Lại để tay buông thõng não nề.

Thư thoảng vua cảm như nghe thấy
Ở trên đây những thủy thủ hát ca
Và ngợi khen Harald Harfagar –
Vị vua trong bài ca hùng sử.

Nhà vua rên và khóc và nức nở
Cứ như từ đáy trái tim thôi;
Nàng tiên cá cúi mình nhanh xuống
Và hôn ông với cái miệng cười.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Vua Harald Harfagar từ chùm Romanzen (Những bài ca tình sử) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

König Harald Harfagar

Heinrich Heine (1797-1856)
Der König Harald Harfagar
Sitzt unten in Meeresgründen
Bei seiner schönen Wasserfee;

Die Jahre kommen und schwinden.
Von Nixenzauber gebannt und gefeit,
Er kann nicht leben, nicht sterben;
Zweihundert Jahre dauert schon
Sein seliges Verderben.

Des Königs Haupt liegt auf dem Schoß
Der holden Frau, und mit Schmachten
Schaut er nach ihren Augen empor
Kann nicht genug sie betrachten.

Sein goldnes Haar ward silbergrau,
Es treten die Backenknochen
Gespenstisch hervor aus dem gelben Gesicht,
Der Leib ist welk und gebrochen.

Manchmal aus seinem Liebestraum
Wird er plötzlich aufgeschüttert,
Denn droben stürmt so wild die Flut,
Und das gläserne Schloß erzittert.

Manchmal ist ihm, als hört er im Wind
Normannenruf erschallen;
Er hebt die Arme mit freudiger Hast,
Läßt traurig sie wieder fallen.

Manchmal ist ihm, als hört er gar,
Wie die Schiffer singen hier oben
Und den König Harald Harfagar
Im Heldenliede loben.

Der König stöhnt und schluchzt und weint
Alsdann aus Herzensgrunde.
Schnell beugt sich hinab die Wasserfee
Und küßt ihn mit lachendem Munde.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:

„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của William Adolphe Bouguereau (1825 - 1905): Họa sĩ Pháp, bậc thầy của phái Cổ điển Hàn lâm và Hiện thực Cổ điển.

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

Gặp gỡ

Heinrich Heine (1797-1856)    


Chính dưới tán cây đoan nhạc nổi
Nơi dập dìu khiêu vũ gái trai
Hai người nhảy, không ai biết họ
Trông cao sang và dáng mảnh mai.

Họ lả lướt nhịp lên nhịp xuống
Theo một cung điệu hiếm lạ kỳ;
Họ cười với nhau, lắc đầu ăn ý
Cô nương khe khẽ giọng thầm thì:

„ Chàng công tử đẹp của em, trên mũ
Phất phơ rung một nhánh tảo lam
Hoa đó mọc dưới sâu đáy biển-
Ngài không sinh từ gia tộc Adam.

Ngài là đàn ông nòi thủy tộc, muốn
Quyến rũ cô gái đẹp trong làng
Em nhận ra ngài khi vừa chạm mắt
Ở hàm răng cá nhọn hoắt xương.“

Họ lả lướt nhịp lên nhịp xuống
Theo một cung điệu hiếm lạ kỳ;
Họ cười với nhau, lắc đầu ăn ý
Công tử khe khẽ giọng thầm thì:

„ Cô nương đẹp ơi, nói anh sao thế
Tay cô em lạnh buốt như băng
Nói anh nghe, tại sao viền ướt
Ở chiếc xiêm cô mặc trắng tinh

Anh nhận ra cô, ngay lần đầu chạm mắt
Ở cái nhún mình vẻ chế nhạo ngươi
Cô không phải là con loài người
Cô là em họ anh, nàng tiên cá! “

Vĩ cầm câm bặt, ngừng khiêu vũ
Cả hai người lịch sự rời nhau.
Đáng tiếc chúng biết nhau quá rõ
Và bây giờ tìm cách lánh mau.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Gặp gỡ từ chùm Romanzen (Những bài ca tình sử) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Begegnung

Heinrich Heine (1797-1856)

Wohl unter der Linde erklingt die Musik,
Da tanzen die Burschen und Mädel,
Da tanzen zwei, die niemand kennt,
Sie schaun so schlank und edel.

Sie schweben auf, sie schweben ab,
In seltsam fremder Weise;
Sie lachen sich an, sie schütteln das Haupt,
Das Fräulein flüstert leise:

»Mein schöner Junker, auf Eurem Hut
Schwankt eine Neckenlilje,
Die wächst nur tief in Meeresgrund -
Ihr stammt nicht aus Adams Familie.

Ihr seid der Wassermann, Ihr wollt
Verlocken des Dorfes Schönen.
Ich hab Euch erkannt, beim ersten Blick,
An Euren fischgrätigen Zähnen.«

Sie schweben auf, sie schweben ab,
In seltsam fremder Weise,
Sie lachen sich an, sie schütteln das Haupt,
Der Junker flüstert leise:

»Mein schönes Fräulein, sagt mir, warum
So eiskalt Eure Hand ist?
Sagt mir, warum so naß der Saum
An Eurem weißen Gewand ist?

Ich hab Euch erkannt, beim ersten Blick,
An Eurem spöttischen Knickse -
Du bist kein irdisches Menschenkind,
Du bist mein Mühmchen, die Nixe.«

Die Geigen verstummen, der Tanz ist aus,
Es trennen sich höflich die beiden.
Sie kennen sich leider viel zu gut,
Suchen sich jetzt zu vermeiden.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Eugène Delacroix (1798-1863): Họa sĩ Pháp, đặc biệt vì trí tưởng tượng và cách dùng mầu phóng khoáng, được coi như người dọn đường cho Chủ nghĩa Ấn tượng.

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2020

Các bạn gọi đó là linh hồn…

Rainer Maria Rilke (1875-1926)    



Các bạn gọi đó là linh hồn, thứ gì kêu ri ri mới e dè
trong bạn? Thứ gì như âm thanh của quả chuông anh hề,
lắc xin tán thưởng và nài phẩm giá,
và kết cục chết nghèo một cái chết đáng thương
trong đêm của những nhà nguyện gothic khói hương, -
các bạn gọi đó là linh hồn?

Nhìn vào đêm xanh, tháng Năm ngập tuyết,
nơi những thế giới rong ruổi đường dài,
với tôi: tôi mang một mảnh vĩnh cửu
trong lồng ngực. Cái đó lay chuyển và thét gào
và muốn băng ra ngoài và muốn lượn vòng cùng với chúng.
Và đó là linh hồn.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Nennt ihr das Seele…

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Nennt ihr das Seele, was so zage zirpt
in euch? Was, wie der Klang der Narrenschellen,
um Beifall bettelt und um Würde wirbt,
und endlich arm ein armes Sterben stirbt
im Weihrauchabend gotischer Kapellen, -
nennt ihr das Seele?

Schau ich die blaue Nacht, vom Mai verschneit,
in der die Welten weite Wege reisen,
mir ist: ich trage ein Stück Ewigkeit
in meiner Brust. Das rüttelt und das schreit
und will hinauf und will mit ihnen kreisen ...
Und das ist Seele.

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh thuốc nước của họa sĩ biểu hiện Đức Emil Nolde (1867-1956)

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020

Nàng Mette (theo truyện cổ Đan Mạch)

Heinrich Heine (1787-1856)     

Tranh© William Adolphe Bouguereau (1825 - 1905)

Gã Peter và Bender ngồi uống
Rượu vang. Bender nói: „Cược nào
Dẫu mi hát chinh phục toàn thế giới.
Chưa bao giờ được Mette nhà tao!

Peter nói: Ta cược ngựa thiên lý
Đổi đàn chó của mi, chẳng thêm,
Ta hát dụ nàng Mette về trang trại
Ngay hôm nay, đúng giờ tý nửa đêm.

Và đúng lúc nửa đêm giờ tý
Gã Peter cất tiếng hát ca
Bay qua sông, qua cánh rừng già
Những âm sắc ngọt ngào, dồn dập.

Những cây thông lặng yên hồi hộp
Cánh đồng ngưng bặt tiếng rì rào
Vầng trăng mờ run rẩy trời cao
Những vì sao tinh anh nghe ngóng.

Nàng Mette bỗng nhiên bừng tỉnh:
- Ai hát kia ở trước phòng ta?
Nàng rũ xiêm và hét vọng ra
Nên nông nỗi kêu than rền rĩ.

Nàng bước đi, không gì ngăn cản
Chính thế qua sông, qua cánh rừng già,
Gã Peter cùng với bài ca
Mạnh mẽ kéo nàng về sân nhà gã.

Khi nàng trở về nhà sáng sớm
Gã Bender đứng trước cửa nhà:
„- Mette này, cô ở đâu đêm qua?
Áo xống cô ướt đầm sương giá!“

- Đêm qua em bên dòng sông tiên cá,
Ở đó em nghe lời họ tiên tri
Những nàng tiên cá nghịch ngợm ghê
Họ vẩy nước lên người em tung tóe.

„Sông tiên cá có bờ cát mịn
Cô chẳng hề đi đến chốn kia!
Bàn chân cô rách bươm vết máu
Và má cô máu cũng chảy kìa.“

- Đêm hôm qua em vào trong rừng quỉ
Xem quỷ lùn múa điệu vũ vòng
Chẳng may em xước chân rách mặt
Bởi vì gai và những cành thông.

„- Đến tháng Năm quỉ lùn mới múa
Trên những đồng hoa trắng muốt bông
Nhưng bây giờ là mùa thu lạnh
Trên dải rừng gió rít tầng không.“

- Bên Peter Nielsen, đêm em ở lại,
Ông ta ca giọng mạnh mẽ nhiệm màu
Bay qua nước dòng, qua cánh rừng sâu,
Cuốn hút em không sao cưỡng lại.

Khúc hát ông ta mạnh như cái chết
Quyến rũ em vào thối rữa và bóng đêm.
Trong tim em lửa thanh sắc cháy lên
Nên em biết giờ em phải chết.-

Cửa nhà thờ tế nhuyễn treo đen kịt,
Chuông nguyện hồn gióng giả thảm thương;
Nghĩa đây là cái chết thê lương
Của cô nàng Mette tội nghiệp.

Gã Bender đứng trước linh cữu
Và thở dài tự đáy lòng mình:
- Nay tôi mất cô vợ đẹp xinh
Và những con chó trung thành nữa.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Nàng Mette từ chùm Romanzen (Những bài ca tình sử) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Frau Mette
(nach dem Dänischen)

Heinrich Heine (1787-1856)

Herr Peter und Bender saßen beim Wein,
Herr Bender sprach: Ich wette,
Bezwänge dein Singen die ganze Welt,
Doch nimmer bezwingt es Frau Mette.

Herr Peter sprach: Ich wette mein Roß,
Wohl gegen deine Hunde,
Frau Mette sing ich nach meinem Hof,
Noch heut, in der Mitternachtstunde.

Und als die Mitternachtstunde kam,
Herr Peter hub an zu singen;
Wohl über den Fluß, wohl über den Wald
Die süßen Töne dringen.

Die Tannenbäume horchen so still,
Die Flut hört auf zu rauschen,
Am Himmel zittert der blasse Mond
Die klugen Sterne lauschen.

Frau Mette erwacht aus ihrem Schlaf:
Wer singt vor meiner Kammer?
Sie achselt ihr Kleid, sie schreitet hinaus; -
Das ward zu großem Jammer.

Wohl durch den Wald, wohl durch den Fluß
Sie schreitet unaufhaltsam;
Herr Peter zog sie nach seinem Hof
Mit seinem Liede gewaltsam.

Und als sie morgens nach Hause kam,
Vor der Türe stand Herr Bender:
»Frau Mette, wo bist du gewesen zur Nacht,
Es triefen deine Gewänder?«

Ich war heut nacht am Nixenfluß,
Dort hört ich prophezeien,
Es plätscherten und bespritzten mich
Die neckenden Wasserfeien.

Ich war heut nacht im Elfenwald,
Zu schauen den Elfenreigen,
Ich hab mir verwundet Fuß und Gesicht,
An Dornen und Tannenzweigen.

»Die Elfen tanzen im Monat Mai,
Auf weichen Blumenfeldern,
Jetzt aber herrscht der kalte Herbst
Und heult der Wind in den Wäldern.«

Bei Peter Nielsen war ich heut nacht,
Er sang, und zaubergewaltsam,
Wohl durch den Wald, wohl durch den Fluß,
Es zog mich unaufhaltsam.

Sein Lied ist stark als wie der Tod,
Es lockt in Nacht und Verderben.
Noch brennt mir im Herzen die tönende Glut;
Ich weiß, jetzt muß ich sterben. -

Die Kirchentür ist schwarz behängt,
Die Trauerglocken läuten;
Das soll den jämmerlichen Tod
Der armen Frau Mette bedeuten.

Herr Bender steht vor der Leichenbahr,
Und seufzt aus Herzensgrunde:
Nun hab ich verloren mein schönes Weib
Und meine treuen Hunde.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của William Adolphe Bouguereau (1825 - 1905): Họa sĩ Pháp, bậc thầy của phái Cổ điển Hàn lâm và Hiện thực Cổ điển.

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2020

Bên dưới

Paul Celan (1920-1970)     

Tranh của © Anselm Kiefer (sinh năm 1945)

Được dẫn về quên lãng
câu chuyện vãng lai
của con mắt đôi ta chậm chạp.

Được dẫn về từng âm tiết, rải đều
trên những con xúc xắc mù lòa ban ngày,
vơ lấy chúng bàn tay chơi bài to lớn
khi tỉnh dậy.

Và sự lắm lời của anh
vẩn đọng hạt pha lê nhỏ
trên chiếc áo choàng của sự nín lặng nơi em.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Unten

Paul Celan (1920-1970)

Heimgeführt ins Vergessen
das Gast-Gespräch
unsrer langsamen Augen.

Heimgeführt Silbe um Silbe, verteilt
auf die tagblinden Würfel, nach denen
die spielende Hand greift, groß,
im Erwachen.

Und das Zuviel meiner Rede:
angelagert dem kleinen Kristall
in der Tracht deines Schweigens.

Chú thích của người dịch:

Paul Celan (Paul Antschel, 1920-1970): Nhà thơ viết tiếng Đức, gốc Do thái. *Sinh tại Czernowitz, Bucovina, tỉnh lỵ của đế quốc Áo-Hung, thời còn trực thuộc Romania, nay thuộc về Ukraine * 1937- 1939: Học nghề Y tại Tours, Pháp* 1941-1945: Chạy trốn, bị cầm tù trong trại tập trung. Cha mẹ ông bị áp giải vào trại tập trung ở Transnistria, nơi cha ông chết vì thương hàn và mẹ ông bị bắn chết *Sau 1945: Làm phiên dịch trong nhà xuất bản ở Bukarest sau Thế chiến II *Năm 1947 di cư qua Vienna, sau sang Paris 1948 *Tại đây Paul Celan nghiên cứu Ngôn ngữ và Văn chương, giảng tiếng Đức tại Écolo Normale Supérieure. 1970: Tự sát, gieo mình xuống sông Seine sau chuyến thăm Israel vào tháng Mười năm 1969.

Tranh của Anselm Kiefer (sinh năm 1945): Họa sĩ Đức, một trong những họa sĩ nổi tiếng nhất đương đại.

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2020

Hãy buông ra!

Heinrich Heine (1797-1856)   

Tranh© Lotte Laserstein (1898-1993)

Ban ngày phải lòng đêm tối,
Phải lòng đông là xuân xanh,
Cuộc sống phải lòng cái chết -
Và còn em, em yêu anh.

Em yêu anh, bóng ghê rợn
Trùm lên em tối tràn lan,
Thảy xuân sắc em úa tàn,
Và linh hồn em rỏ máu.

Buông anh ra và hãy chỉ
Riêng yêu con bướm nhởn nhơ
Trong nắng kia, cánh dật dờ-
Hãy buông anh và bất hạnh.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Hãy buông ra từ chùm Romanzen (Những bài ca tình sử) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Laß ab!

Heinrich Heine (1797-1856)

Der Tag ist in die Nacht verliebt,
Der Frühling in den Winter,
Das Leben verliebt in den Tod -
Und du, du liebest mich!

Du liebst mich - schon erfassen dich
Die grauenhaften Schatten,
All deine Blüte welkt,
Und deine Seele verblutet.

Laß ab von mir, und liebe nur
Die heiteren Schmetterlinge,
Die da gaukeln im Sonnenlicht -
Laß ab von mir und dem Unglück.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Lotte Laserstein (1898-1993): Nữ họa sĩ Đức.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...