Thứ Ba, 27 tháng 10, 2020

Hoàng đế Trung hoa

Heinrich Heine (1797-1856)  
 


Cha ta, kẻ phàm phu khô khốc,
Vốn là người nhu nhược thật thà
Nhưng còn ta uống thứ rượu của ta!
Và ta là hoàng đế vĩ đại.

Đó là thứ nước thần! Ta đã
Phát hiện ra điều đó trong lòng:
Rượu ta đó, ta vừa mới uống
Nước Trung Hoa đã rực rỡ nở bông.

Thì vương quốc trung tâm thế giới
Biến ra ngay mảnh vườn thắm hoa tươi,
Ta một trang nam tử sắp nên người
Và vợ ta sắp bụng mang dạ chửa.

Đâu đâu cũng phong lưu dư dả
Các bệnh nhân khoẻ mạnh hồi sinh:
Bậc cung đình thế giới, vị hiền minh,
Đức Khổng Tử- suy tư thêm sáng giá.

Bánh hạt mạch đen, ôi vui quá
Sẽ hoá thành bánh nướng hạnh nhân.
Những người áo rách trong đất nước
Dạo chơi trong gấm vóc bọc thân.

Những cái đầu bị thương chiến trận,
Đội ngũ người kỵ mã phẩm quan,
Lấy lại rồi sức thanh xuân rạo rực,
Họ lắc lư những cái đuôi sam.

Ngôi chùa lớn nơi tượng trưng và ẩn giấu
Của đức tin, cũng đã hoàn thành
Người Do Thái cuối cùng vào rửa tội
Và được ban long phượng bội tinh.

Tinh thần cách mạng đã tắt ngấm
Các ngài Mãn Thanh cao quý hô to:
“Chúng ta không muốn nền hiến pháp
Mà chỉ cần roi, gậy ban cho!”

Các đồ đệ của thần y Äskulap (1)
Đều khuyên ta chừa rượu đi thôi
Nhưng ta vẫn rượu ta, ta uống
Cho nước ta hạnh phúc tuyệt vời

Hãy cứ rót, rót đầy chén nữa
Ngon như manna (2) vị bánh cao lương!
Dân ta sướng, cũng có đầy mù tạt
Và tung hô: Vạn thọ vô cương!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Hoàng đế Trung hoa từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

XVII. Der Kaiser von China

Heinrich Heine (1797-1856)

Mein Vater war ein trockner Taps,
Ein nüchterner Duckmäuser,
Ich aber trinke meinen Schnaps
Und bin ein großer Kaiser.

Das ist ein Zaubertrank! Ich habs
Entdeckt in meinem Gemüte:
Sobald ich getrunken meinen Schnaps,
Steht China ganz in Blüte.

Das Reich der Mitte verwandelt sich dann
In einen Blumenanger,
Ich selber werde fast ein Mann,
Und meine Frau wird schwanger.

Allüberall ist Überfluß,
Und es gesunden die Kranken;
Mein Hofweltweiser Confusius
Bekömmt die klarsten Gedanken.

Der Pumpernickel des Soldats
Wird Mandelkuchen - O Freude!
Und alle Lumpen meines Staats
Spazieren in Samt und Seide.

Die Mandarinenritterschaft,
Die invaliden Köpfe,
Gewinnen wieder Jugendkraft
Und schütteln ihre Zöpfe.

Die große Pagode, Symbol und Hort
Des Glaubens, ist fertig geworden;
Die letzten Juden taufen sich dort
Und kriegen den Drachenorden.

Es schwindet der Geist der Revolution,
Und es rufen die edelsten Mandschu:
Wir wollen keine Konstitution,
Wir wollen den Stock, den Kantschu!

Wohl haben die Schüler Äskulaps
Das Trinken mir widerraten,
Ich aber trinke meinen Schnaps
Zum Besten meiner Staaten.

Und noch einen Schnaps, und noch einen Schnaps!
Das schmeckt wie lauter Manna!
Mein Volk ist glücklich, hats auch den Raps,
Und jubelt: Hosianna!

Chú thích của người dịch:

(1) Äskulap/ Asclepius: Vị thần y trong thần thoại Hy Lạp cầm cây quyền trượng có con rắn quấn quanh.
(2) Manna: Thứ bánh đảm bảo cho người Israel qua được chuyến hành trình 40 năm qua sa mạc. Vào thế kỷ 8 và 9, một chi nhánh người Do Thái cũng lưu lạc sang Trung hoa. Ở bài thơ cũng thuộc chùm Thơ thời cuộc, Heinrich Heine tiếp tục châm biếm vua Phổ Friedrich Wilhelm IV và triều đại của ông (1840-1861).

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Adolph Friedrich Erdmann Menzel (1815 – 1905): Họa sĩ Đức.

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2020

Con của quỉ

Heinrich Heine (1797-1856)  



Một đứa bé đầu to bằng quả bí,
Đuôi sam bạc phơ, ria vàng hung,
Tay nhện loằng ngoằng, và khỏe vô cùng
Dạ dầy khổng lồ, mà ruột già ngắn tí,-
Đứa con quỉ, ấy một viên hạ sĩ,
Ăn trộm về, thay vào trẻ sinh ra,
Lén lút bỏ vào nôi của chúng ta,-
Một quái thai, dễ lão già chơi thú (1),
Với dối lừa và cái chuông gió
Ưa thích của mình, lão đã sản sinh,-
Quái vật này, ta không cần nêu danh,
Cứ dìm quách xuống sông hay thiêu sống!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Con của quỉ từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Der Wechselbalg

Heinrich Heine (1797-1856)

Ein Kind mit großem Kürbiskopf,
Hellblondem Schnurrbart, greisem Zopf,
Mit spinnig langen, doch starken Ärmchen,
Mit Riesenmagen, doch kurzen Gedärmchen -
Ein Wechselbalg, den ein Korporal,
Anstatt des Säuglings, den er stahl,
Heimlich gelegt in unsre Wiege -
Die Mißgeburt, die mit der Lüge,
Mit seinem geliebten Windspiel vielleicht,
Der alte Sodomiter gezeugt -
Nicht brauch ich das Ungetüm zu nennen -
Ihr sollt es ersäufen oder verbrennen!

Chú thích của người dịch:
(1) Sodomite: Kẻ giao phối với thú, lệch lạc về tình dục (sodomy). Lời nguyền rủa độc địa của Heinrich Heine hướng vào nước Đức chuyên chế và quân phiệt thời Friedrich Wilhelm IV sau Cách mạng Pháp và Napoleon.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Adolph Friedrich Erdmann Menzel (1815 – 1905): Họa sĩ Đức.

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2020

Nhà xác

Rainer Maria Rilke (1875-1926)    


Người nằm sẵn, như là đương phải
Tìm ra thêm một động thái về sau
Biết hòa hợp họ, với cái lạnh
Và giải hòa, gắn bó họ cùng nhau;

Bởi tất cả còn như không hồi kết
Thế thì tìm sao trong túi áo còn vương
Cái tên nào? Và quanh khóe miệng
Người ta gột đi ở nỗi chán chường:

Không rửa sạch, chỉ trở nên nguyên chất
Râu dựng lên, nào nữa cứng thêm,
Theo gu của người gác, thế đấy ổn hơn.

Chỉ để khỏi mếch lòng kẻ nhìn mồm há hốc,
Đôi mắt sau hàng mi khẽ đảo tròng
Và giờ đây nhìn hướng vào trong.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Morgue

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Da liegen sie bereit, als ob es gälte,
nachträglich eine Handlung zu erfinden,
die mit einander und mit dieser Kälte
sie zu versühnen weiß und zu verbinden;

denn das ist alles noch wie ohne Schluss.
Was für ein Name hätte in den Taschen
sich finden sollen? An dem Überdruss
um ihren Mund hat man herumgewaschen:

er ging nicht ab; er wurde nur ganz rein.
Die Bärte stehen, noch ein wenig härter,
doch ordentlicher im Geschmack der Wärter,

nur um die Gaffenden nicht anzuwidern.
Die Augen haben hinter ihren Lidern
sich umgewandt und schauen jetzt hinein.

Rainer Maria Rilke, Juli 1906, Paris

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.
Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Rembrandt Harmenszoon van Rijn (1606-1669): Họa sĩ Hà Lan.

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2020

Tiên liệu

Heinrich Heine (1797-1856)



Tự do Đức! Không cần thong dong nữa
Thả chân trần qua những đầm lầy,
Kết cục mi nghĩ đến tất giầy
Và mi cũng cần có đôi ủng xỏ!

Đội trên đầu, mi cần phải có
Chiếc mũ len ấm áp chỏm bông,
Nó bảo vệ đôi tai mi ấy
Trong những ngày lạnh lẽo mùa đông.

Thậm chí mi còn nhận đồ ăn uống
Một tương lai vĩ đại đến gần mi
Chỉ đừng cho con thú satyr (1)
Quyến rũ đến những trò trác táng!

Chỉ đừng hỗn và xấc hơn quá đáng
Đừng hất niềm kính trọng sang bên
Trước những bề cao trọng ở trên
Và trước mặt quí ông thị trưởng!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Tiên liệu từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Verheißung

Heinrich Heine (1797-1856)

Nicht mehr barfuß sollst du traben,
Deutsche Freiheit, durch die Sümpfe,
Endlich kommst du auf die Strümpfe,
Und auch Stiefeln sollst du haben!

Auf dem Haupte sollst du tragen
Eine warme Pudelmütze,
Daß sie dir die Ohren schütze
In den kalten Wintertagen.

Du bekommst sogar zu essen -
Eine große Zukunft naht dir! -
Laß dich nur vom welschen Satyr
Nicht verlocken zu Exzessen!

Werde nur nicht dreist und dreister!
Setz nicht den Respekt beiseiten
Vor den hohen Obrigkeiten
Und dem Herren Bürgermeister!

Chú thích của người dịch:

(1) Sinh vật nửa người nửa dê trong thần thoại Hy Lạp. Các vị thần Satyr thường được miêu tả có tính cách phóng khoáng và hoang dại, họ dành phần lớn thời gian để uống rượu, ca hát nhảy múa, và đuổi bắt những nàng Nymph xinh đẹp

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Unter den Linden – Tranh của Leo Lesser Ury (geb. Leiser Leo Ury: (1861-1931): Họa sĩ Đức

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2020

Đứa con

Heinrich Heine (1797-1856)   


Trong mơ Chúa tặng người ngoan đạo
Nàng nào hay, sao nên nỗi sự tình
Nàng đẻ con và hầu như không biết,-
Germania, cô gái đồng trinh.

Một thằng cu đang lổm ngổm
Lìa khỏi dây rốn,
Sẽ là cậu bé bắn cung dễ thương
Như Amor thần của yêu đương.

Nay mai bắn trúng con đại bàng tầng cao nhất,
Nó còn đang bay bổng tự hào.
Mũi tên hay của cậu thậm chí
Bắn tới con điểu có hai đầu (1).

Ấy thế chẳng như kẻ ngoại giáo (2) mù nọ
Chẳng như Amor - vị ái thần
Cậu khá nên không áo không quần
Ra mắt như người Xăng qui lốt (3).

Đất nước chúng ta trời đang vào tiết
Đạo đức và Cảnh sát lệnh nghiêm,
Rằng trẻ già khắp lượt dưới trên
Thân mình che vải.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Đứa con từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Das Kind

Heinrich Heine (1797-1856)

Den Frommen schenkts der Herr im Traum,
Weißt nicht, wie dir geschah!
Du kriegst ein Kind und merkst es kaum,
Jungfrau Germania.

Es windet sich ein Bübelein
Von deiner Nabelschnur,
Es wird ein hübscher Schütze sein,
Als wie der Gott Amour.

Trifft einst in höchster Luft den Aar,
Und flög er noch so stolz,
Den doppelköpfigen sogar
Erreicht sein guter Bolz.

Doch nicht wie jener blinde Heid
Nicht wie der Liebesgott,
Soll er sich ohne Hos und Kleid
Zeigen als Sanskülott.

Bei uns zu Land die Witterung,
Moral und Polizei
Gebieten streng, daß alt und jung
Leiblich bekleidet sei.

Chú thích của người dịch:
(1) Đại bàng hai đầu, thường thấy trên quốc huy nhiều nước, biểu trưng quyền lực kép của nhà vua - hoàng đế.
(2) Các tôn giáo pagan, ngoại giáo hay pagan giáo (paganism, tiếng Đức: Heidentum) là một thuật ngữ được sử dụng lần đầu vào thế kỷ thứ tư bởi các tín hữu Kitô sơ khai để chỉ những nhóm dân cư có nguồn gốc từ Đế quốc La Mã thực hành theo tín ngưỡng đa thần giáo.
(3) Sansculotten: Những người mặc quần dài (khác với giới quí tộc, phong kiến mặc quần chẽn đến đầu gối). Khái niệm Xăng qui lốt chỉ vô sản, công nhân, tiểu thị dân trong Cách mạng tư sàn Pháp, trong một giai đoạn cách mạng, vì ủng hộ phái Gia cô banh họ có ảnh hưởng rất lớn.
Heinrich Heine nhìn về nước Đức (nàng Germania), cuộc đấu tranh dân quyền, và cách mạng tư sản 1848 đầy ý trào lộng.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.
George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."
„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).
Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“
„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“
Germania thức dậy . Tranh của Christian Köhler (1809-1861): Họa sĩ Đức

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2020

Khuynh hướng

Heinrich Heine (1797-1856)  


Ca sĩ Đức! Hát lên đi, ca tụng
Tự do Đức, bài hát của anh
Khiến tâm hồn chúng tôi náo nức
Marseillaise ca khúc quân hành.

Và cổ vũ chúng tôi hành động!
Thôi đừng như Werther (1) thủ thỉ
Chỉ cháy lên cho Lotte cô nàng -
Những gì hồi chuông đã điểm vang

Anh cần nói cho nhân dân biết,
Nói giáo mác, nói lời gươm sắc!
Hãy thôi là cây sáo mềm tơ
Ấy tâm tình êm ái nên thơ - 

Anh hãy là kèn đồng của tổ quốc
Là súng thần công và đại bác
Hãy rúc kèn, nện trống, và giết!
Hãy rúc kèn, nện ngày ngày sấm sét

Kẻ giục giã (2) cuối cùng trốn hết,-
Hãy chỉ ca theo hướng đó thôi mà
Nhưng hãy giữ của anh thơ ca
Chỉ cứ vậy chung chung, như có thể!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Khuynh hướng từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Die Tendenz

Heinrich Heine (1797-1856)

Deutscher Sänger! sing und preise
Deutsche Freiheit, daß dein Lied
Unsrer Seelen sich bemeistre
Und zu Taten uns begeistre,

In Marseillerhymnenweise.
Girre nicht mehr wie ein Werther,
Welcher nur für Lotten glüht -
Was die Glocke hat geschlagen,

Sollst du deinem Volke sagen,
Rede Dolche, rede Schwerter!
Sei nicht mehr die weiche Flöte,
Das idyllische Gemüt -

Sei des Vaterlands Posaune,
Sei Kanone, sei Kartaune,
Blase, schmettre, donnre, töte!
Blase, schmettre, donnre täglich,

Bis der letzte Dränger flieht -
Singe nur in dieser Richtung,
Aber halte deine Dichtung
Nur so allgemein als möglich.

Chú thích của người dịch:

(1) Werther và Lotte: Nhân vật trong tiểu thuyết của Goethe. Tác phẩm Nỗi đau khổ của chàng trẻ Werther được xếp vào trào Bão táp và Thôi thúc (Sturm und Drang) trong văn chương Đức thời Khai sáng.
(2) Stürmer und Dränger: có lẽ tác gỉa nhắc tới những người Bão táp và Thôi thúc (1765-1785). 

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Gerard van Kuijl or Kuijll (1604 - 1673 ): Họa sĩ Hà Lan

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2020

Georg Herwegh

Heinrich Heine (1797-1856)   



Nước Đức tôi đã uống chìm râu tóc
Còn anh tin lời chúc tụng hơi men! (2)
Tin vào mọi cái đầu ống tẩu
Và ngù hắn đeo màu đỏ vàng đen.

Ấy vậy khi cơn phiêu bồng đi mất
Bạn quí ơi bạn đã dính đòn ngay;-
Nhân dân rên như mèo kêu thảm
Vừa mới đây còn say tít cung mây!

Một đám công bộc đang chửi rủa
Thay vào vòng nguyệt quế là táo thối,
Ở mỗi góc một gã sen đầm,
Cuối cùng anh đến được biên giới.

Anh đứng như trời trồng. Thương cảm
Trào lên anh khi nhìn cọc dầm chôn
San sát như ngựa vằn vẽ sọc
Tiếng thở dài hắt ra khỏi tâm hồn:

„Trong cát của mi Aranjuez (3)
Sao những ngày êm đẹp biến nhanh,
Nơi ta đứng trước đức vua Philipp
Và quần thần Uckermark công khanh.

Nhà vua đã gật đầu tán thưởng
Khi ta đóng vai hầu tước Posa (4),
Thơ ta đã làm ngài ngây ngất
Ấy nhưng ngài chẳng thích văn ta“.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Georg Herwegh từ chùm Zeitgedichte (Những bài thơ thời cuộc) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

XII. Georg Herwegh

Heinrich Heine (1797-1856)

Mein Deutschland trank sich einen Zopf,
Und du, du glaubtest den Toasten!
Du glaubtest jedem Pfeifenkopf
Und seinen schwarz-rot-goldnen Quasten.

Doch als der holde Rausch entwich,
Mein teurer Freund, du warst betroffen -
Das Volk wie katzenjämmerlich,
Das eben noch so schön besoffen!

Ein schimpfender Bedientenschwarm,
Und faule Apfel statt der Kränze -
An jeder Seite ein Gendarm,
Erreichtest endlich du die Grenze.

Dort bleibst du stehn. Wehmut ergreift
Dich bei dem Anblick jener Pfähle,
Die wie das Zebra sind gestreift,
Und Seufzer dringen aus der Seele:

»Aranjuez, in deinem Sand,
Wie schnell die schönen Tage schwanden,
Wo ich vor König Philipp stand
Und seinen uckermärkischen Granden.

Er hat mir Beifall zugenickt,
Als ich gespielt den Marquis Posa;
In Versen hab ich ihn entzückt,
Doch ihm gefiel nicht meine Prosa.«

Chú thích của người dịch:

(1) Georg Friedrich Rudolf Theodor Andreas Herwegh (*1817-1875): Nhà thơ dịch giả, cùng với Heinrich Heine và Ferdinand Freiligrath thuộc về những nhà thơ lừng danh đương thời. Khai phá một dòng thơ chính trị, ông muốn trở thành nhà thơ của những túp lều, không của những đài điện và đòi hỏi một nền „văn chương tranh đấu cho quyền của nô lệ chống lại kẻ tự do, của người nghèo chống lại người giàu, của con người chống lại quí tộc và của cộng hòa chống lại nền quân chủ“. Trong bối cảnh nước Đức giữa thời Trùng hưng và Cách mạng tư sản 1848, những bài thơ ông viết lôi cuốn thợ thuyền, nông dân, thợ thủ công khiến chính quyền quân chủ hoảng sợ cấm xuất bản và ra lệnh lùng bắt. Herwegh chạy trốn sang Thụy Sĩ.

Sau những thủ đoạn thỏa hiệp chính trị và nới lỏng kiểm duyệt, vua Phổ Friedrich Wilhelm IV đã cho ông trở về và nhận lời đón tiếp. Nhưng rồi cuộc triều kiến của Herwegh năm 1842 không mang lại kết quả, thậm chí trở nên lố bịch. Lập tức ngay sau đó nhà vua cấm dự án ra tạp chí của Herwegh, siết chặt kiểm duyệt và trục xuất ngay nhà thơ vừa mới đính hôn với cô con gái nhà giàu. Bị nền báo chí chính thống Phổ nguyền rủa, Herwegh cũng lãnh đủ sự chế nhạo của bạn bè.

Bài thơ của Heine đề cập cuộc gặp, có ý cười cợt sự vô duyên và ngờ nghệch của Herwegh, người thi sĩ ông ví với „con chiền chiện sắt“ (Herwegh, anh, con chiền chiện bằng sắt/ Bởi vì anh cất cánh đến trời xanh/ Anh đã mất trái đất trong gương mặt mình/ Và chỉ trong thơ sống xuân đời anh hát.)

(2) Toasten: Những lát bánh nướng, đã thành lời cửa miệng thời đó khi nâng cốc chúc tụng nhau.
(3) Thành phố Tây Ban Nha, cách Madrid chừng 50 km.
(4) Nhân vật trong vở kịch Don Carlos của Friedrich Schiller (Herwegh rất ngưỡng mộ Schiller vì lý tưởng và ý thức dấn thân ) động chạm đến những xung đột xã hội-chính trị và những âm mưu tranh giành quyền lực, tình ái trong triều đình dòng tộc xảy ra ở đầu cuộc chiến tranh tám mươi năm, thời điểm các tỉnh lỵ Hà Lan tranh đấu với Tây Ban Nha giành độc lập.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).
Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:

"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Chân dung Herwegh, tranh của Hans Conrad Hitz (1798-1866): Họa sĩ người Thụy sĩ.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...