Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2015

Suy tư cùng Umberto Eco

Phạm Kỳ Đăng

Tranh của © Sigmar Polke (1941-2010), họa sĩ  Đức đương đại

Thưa ông Umberto Eco,
có lẽ chúng ta phải cay đắng mà đồng ý với nhau rằng, cái bản tính con người của chúng ta kết quả từ sự giáo dục duy cảm có thể nói là sai lầm ở nhiều phương diện. Con người bé bỏng ở khắp địa cầu, đặc biệt trong các quốc gia đang hội nhập chưa có quá trình phê luận về dân tộc và lịch sử, sớm được cấy vào đầu nhận thức về các giá trị, đức hay, nết trội, nét truyền thống, ưu điểm của tín ngưỡng, nòi giống, bao hàm nội dung suy diễn thô tháp từ những xúc cảm tương phản. Những giá trị này, sau biến cố 11.9., xem ra rất đáng phải bàn bạc lại. Thiếu lí trí soi xét, con người ta lên đồng với những giá trị tự huyễn không mấy trường vốn đó. Nhưng có ai đủ sức mà lên đồng mãi mãi. Lúc vỡ mộng ắt còn khổ hơn nhiều.

Tuổi cắp sách, thế hệ tôi được giáo dục quá kĩ về một lòng yêu nước, điều được coi là truyền thống, là tính ưu việt của dân tộc tôi. Cái định nghĩa về tình yêu nước ấy mù mờ và thiển cận đến nỗi bây giờ lắm lúc nghĩ lại không khỏi bực. May mắn thay, nhìn về miền thơ ấu thấy dưới vòm trời rốc két vẫn còn một đồng bằng đẹp mà tôi yêu như ông yêu đất Piemonte, cùng ba bốn kỷ niệm êm đềm khiến lòng dịu đi chút nào cảm giác bị mất cắp một phần tuổi thơ vào những giờ học đó. Nhà trường giảng cho hay một trong những đặc tính hay biểu hiện của lòng yêu nước phải là lòng căm thù giặc. Lòng yêu nước kích động xét từ đối thế tađịch không đội trời chung, (thường nhân danh tập thể để trấn an cho một nhóm tham vọng), luôn được cổ súy suốt nhiều cuộc chiến ở đất nuớc tôi, nơi đất nghèo, con người vóc dáng mảnh dẻ luôn chịu ám ảnh nỗi sợ kẻ thù nhân dân, kẻ thù dân tộc, kẻ thù số một. Còn ở nửa miền kia đất nuớc, phó trắng tình yêu quê hương cho chính nghĩa quốc gia, chính quyền miền Nam cộng hòa dựng chuồng cọp tra tấn nhục hình những người cộng sản, những người bất đồng chính kiến. Chiến tranh chấm dứt, nhà nước Việt Nam hầu bối rối nhiều thập kỉ trong ngụy cảnh thù trong giặc ngoài, luôn phải vẽ dựng kẻ thù số một như lấy ngoáo ộp đe con trẻ lười ăn ngại ỉa. Hoang mang tột độ, cả triệu người Việt từ mọi miền vượt biên ra đi, trong số đó không ít người miền Bắc, tìm chốn dung thân ở đất địch. Cái quan niệm về tình yêu nước của người Việt thật rất có vấn đề. Năm 1983 tôi từng hoảng hồn nghe một sinh viên, được chính phủ miền Bắc gửi đi học hẳn hoi, tru lên rằng nếu có quả bom nguyên tử y sẽ bỏ xuống cho đất Việt Nam chuế này chết ráo cả, bất chấp họ mạc gia đình y còn sống ở đó. Với kênh thông tin rộng lớn khó ngăn ngày hôm nay, các thế lực còn nuối tiếc hình ảnh kẻ thù số một còn lương tri hãy nên nghĩ lại. Quan điểm lập trường cũ rích tai hại chỉ cho phép dựng được hình ảnh thù trong mà thôi. Mà như thế lại phải chĩa súng vào chính con cháu họ đang đứng hàng đầu giới doanh nghiệp tư nhân. Còn trông lên ti vi, các kẻ thù số một bên ngoài đều bắt tay nhau trong thỏa thuận chống khủng bố cả rồi.


“Quê hương là chùm khế ngọt”! Sự gợi nhớ này quả thật là một diễn đề của lòng yêu nước đó, bi ai như một lời chèo kéo, vớt vát với những người bất chấp sinh mạng bỏ xứ ra đi. Chỉ có thế thôi ư? Nếu chỉ có thế, tôi phải nghĩ gì khi bước vào các siêu thị ở châu Âu bày ê hề khế ngọt vùng nhiệt đới? Chả lẽ điều nhắc nhở đầy cải lương ấy khiến tôi phải thiếu an tâm vì quê hương đã chẳng còn, đã bán trọn, bán hết? Nếu vậy thì còn phải rầu lòng hơn trước việc không thiếu gì công ty Ý, bằng cách trả tiền lót tay, dễ dàng nhập bậy vào Việt Nam một loạt thiết bị cũ nát, công nghệ lạc hậu rẻ tiền, lẽ ra phải hủy và trả lệ phí huỷ ở Ý, biến Việt Nam thành kho chứa hoặc nghĩa địa hàng phế thải. Tôi biết điều ông hỏi liệu có nên coi phát triển công nghệ, bành trướng thưong mại, tăng vận tốc giao thông v.v. là những giá trị đích thực? Không bao giờ tôi dám víu vào ông để trần tình cáo tố. Chỉ có điều, trong tình huống ấy, có lẽ chúng ta càng nên định nghĩa lại cái chủ nghĩa yêu nước vốn được thức tỉnh cổ vũ bởi lòng hận thù, liệu có vì lợi ích nước mình mà xâm hại tới lợi ích của các nước khác. Tình yêu quê hương dân tộc cho đến nay vẫn là những tình cảm căn cứ vào kí ức tập thể mà kích động. Kí ức tập thể thường lưu giữ sâu kín nhất thù oán, căm giận và những xúc cảm không mấy êm đềm. Có phải vì tình yêu nước ám cừu hận người Việt mà Khơme đỏ truyền đời báo oán, hướng về tháp Angkor mong gây dựng công xã cộng sản thuần tính Khơme ưu trội hơn? Có phải vì thế mà người Việt luôn đề phòng người Trung Hoa dưới bóng đè ngàn năm vong quốc?

Trước thềm thiên niên kỉ, tòa thánh Vatican qua tiếng nói công khai của giáo hoàng, đã xin lỗi các dân tộc vì những tội ác gây ra trong công cuộc truyền giáo. Ðã đến thời điểm chính phủ quốc dân tôi lên tiếng xin lỗi cho những vụ hành xử bạo ngược người công giáo trong nhiều trăm năm qua. Cho nên đứng trước ông tôi không thể tự hào rằng mình là người của đất nước chịu ảnh hưởng Phật giáo mà ngộ nhận mình chuộng khoan dung, không cuồng tín. Marx, Engels, và trong chừng mực nào đó cả Gramsci, những người đề xuất, phát triển một lí thuyết lấy con người làm chủ đích đã từng mong đạp đổ xã hội tư bản man rợ trong thời kì tích lũy nguyên thuỷ. Học thuyết xã hội này nảy sinh từ căn nguyên tư tưởng tư sản, và đương nhiên ảnh hưởng lớn đến quá trình xã hội hoá xã hội tư bản hiện đại hôm nay. Khi ông lão Việt Nam ngồi mơ nước Nga, thì trước đó hai mươi năm, nhiều thợ thuyền công nhân Ý ngưỡng mộ treo ảnh Lênin hát quốc tế ca rờ tay nhau nắm chặt. Phong trào cộng sản quốc tế từ cách mạng tháng Mười, khi Liên Xô đạt được một tiềm năng to lớn về vật chất và vũ khí nguyên tử, phóng vệ tinh sputnik, cũng là lúc tại nhiều nơi Ðảng cộng sản Ý đắc phiếu tại cuộc bầu cử hành chính địa phương, phải thừa nhận về cơ bản hoàn toàn xa lạ với động cơ khủng bố. Nhưng để thực hiện nền chuyên chính kiểu Stalin ấy, nhóm người lãnh đạo không coi người dân trong nước là chủ đích. Tại Nga, Trung Quốc, Campuchia và các nước cộng hòa dân chủ nhân dân, 80 triệu kẻ thù nhân dân, kẻ thù giai cấp bị bắn hoặc treo cổ, còn giữa các nước anh em chung lí tưởng liên tục xảy ra những vụ huynh đệ tương tàn. Sau khi chuyên chính được củng cố ở các nước chịu ảnh huởng Phật giáo, nơi tín đồ ngỡ không cuồng tín như tín đồ Hồi giáo, những nhà lý thuyết tư tưởng kia nghiễm nhiên được thờ phụng, toạ tòa sen cao ngang, có khi còn hơn so với đức Phật. Nạn cuồng tín kinh khủng nhất sau này dấy nên từ biển người cầm Ngữ lục Mao Trạch Ðông trong tay. Toàn trị (Totalitarismus) và Toàn thống (Fundamentalismus) đều gở bởi các thể chế đó trên con đường đơn nguyên hóa tư tưởng, nhất thể hóa hành động đã và sẽ thủ tiêu mọi cá nhân, cá thể độc lập, tìm hậu thuẫn ở đám giáo điều (Dogmatiker) và cuồng tín (Fanatiker). Cuồng tín vì chính giáo và tôn giáo từ ngàn xưa đều nguy hiểm. Lũ này, chỉ có thể cô lập và hạn chế, khó thể lấy giáo dục mà cải tạo, vì chưa kịp đối thoại, bàn bạc chúng đã xăm xăm dậy dỗ huấn cải kẻ khác. Nước tôi may sao không có nạn hồng vệ binh. Nhưng những hồng vệ khét tiếng nhất xuất đầu lộ diện trên lĩnh vực văn hoá văn nghệ, thâm tâm vốn bài xích tôn giáo, đứng trên lập trường giai cấp, quán triệt tính đảng, tính nhân dân đánh hạ người khác ý, triệt vợ con người ta ra thân tàn ma dại lại hay viện dẫn tinh thần đại độ khoan dung của nhà Phật.

Chủ nghĩa Marx đã khiến hàng triệu triệu người nức lòng đi theo, đã được thực hành trong quãng một đời người, có lẽ bởi đáp ứng, bởi đánh đúng tâm lí kỳ vọng huyền thoại, chờ đợi kết cục đoàn viên của chuyện cổ tích, thích dựa dẫm, chia của người giầu và đói khát thiên đường, rốt cuộc thất bại cũng chính ở bản tính vị kỉ của con người với tiềm thức hình thành từ ngàn ngàn năm để lại. Nhưng ta hãy đối xét mô hình xã hội hậu chiến tranh lạnh. Xin chỉ cho tôi Tây phương hiện đại phát triển dựa trên chủ thuyết nào. Tôi cho rằng Tây phương hiện đại không hề phát triển theo một chủ thuyết nào cả. Nó căn cứ vào đúng nhân tính, cái bản lai diện mục con người, chẳng tốt cũng chẳng xấu mà biến triển. Nhân chủng học văn hóa, nhân chủng học lịch sử, nhân chủng học bản thể, chẳng những đã thất bại nhiều lần mà sẽ còn đứng trước những thách thức khôn lường. Cơ chế dân chủ, khả năng đề kháng duy nhất của xã hội phương Tây ngày nay cũng chỉ chậm chạp thực hiện được chức năng chữa cháy mà không hề tiên liệu nổi những gì kinh hoàng nhất có thể xảy ra.

Chủ nghĩa xã hội, hay thực tế cộng sản như một đối trọng đã sụp đổ toàn cầu. Nghe nói hôm nay, tại Mĩ, một cực đoan điển hình nhất của hướng phát triển phương Tây, nhiều người trong giới khoa học nhân văn xã hội lại bắt đầu lao vào nghiên cứu chủ nghĩa Marx. Và dù cố công tìm về những ý tưởng nguyên ủy của nó mà phân trần, minh định, như ý kiến ông nêu rằng bản thân Marx không dạy loài người phải phát minh lại bánh xe, cá nhân tôi không tin rằng học thuyết xã hội này sẽ cứu vãn được thế giới. Cái bản chất con người nó sờ sờ ra đó. Khác gì lớp tư sản thắng thế vươn lên lại muốn được phong vương hầu huân tước của giới phong kiến, những người nắm quyền chuyên chính vô sản bị chính lối sống tư bản phương Tây cuốn hút mạnh mẽ. Họ nhanh chóng thuộc lầu các ngón chơi của triệu phú Âu Mĩ. Vài vị đồng chí lãnh đạo sang Tây Âu (tôi ngã người về sự thông thạo các hãng mốt nổi tiếng của họ), nhân chuyến công tác tư bản tranh thủ thời gian đi mua âu và tạp dề cho chó canh két đô la giấu trong biệt thự, sẽ chẳng đồng lòng sinh hoạt giống người làm ca kíp. Chính họ cũng không ủng hộ cho một cuộc đảo lộn khuấy từ dưới, cho một sự vùng lên, cho sự chia bôi lại tài sản đâu.
 

Dẫu sao, trong tình huống phát triển thả nổi đó, bỏ đi cái thuyết khắc bạc và bạo liệt về đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, vẫn nên tìm xét những gợi ý từ lí thuyết này để cải cách xã hội. Có điều chúng ta nên tôn trọng nó như một lí thuyết điều chỉnh, một chủ nguyện hơn là một chủ thuyết, thế thôi. Tôi ngôn luận công khai như vậy trên đất nước không trả thù cộng sản sau khi thống nhất. Cho đến gần đây tôi còn bỏ phiếu bầu cử cho những người cộng sản cải biến vì quan niệm rằng nhà nước dân chủ CHLB Ðức cần có những đối trọng đối với những đảng thao túng chính trường và những đảng phát xít mới. Làm vậy, đâu có nghĩa là tôi mong cái đảng hậu duệ của đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Ðức (*) này sẽ thắng thế trên chính trường và khôi phục lại trật tự cũ. Nếu họ nắm đa phiếu cử tri, bản thân tôi cũng sẽ chạy đứt dép, vì tôi biết mấy ông bác này, đi xe sang đời mới, sẽ không tránh cho nền kinh tế Ðức sớm khủng hoảng, nói gì đến đáp ứng chính sách xã hội do đảng các bác đề ra, trước hết là như thế.

Khủng bố, trong động cơ sâu xa nhất đều không xét và lấy con người làm mục đích, có phải là một chủ nghĩa hay không. Câu hỏi này gây cho tôi thắc mắc trong nhiều năm như cách đặt vấn đề liệu có mafia thuốc lá Việt Nam tại Berlin hay không, mà tôi đã nhiều lần cự nự cảnh sát rằng chỉ có đám cướp tống tiền trấn lột chứ không có những cơ cấu băng đảng như ở Parlemo, rằng quy kết ấy quá nặng đối với cộng đồng Việt. Càng rối trí hơn trước vụ thủ lĩnh Arafat của mặt trận PLO, người từng bị Mĩ và Israel liệt vào diện trùm khủng bố, đã được nhận Nobel hòa bình, một giải chỉ tôn vinh những ai phục vụ tối đa cho nhân loại. Càng khó hiểu hơn vì chính nhà cầm quyền Mĩ, không hề bị tấn công tại lãnh thổ, đã dựng nên màn kịch vịnh Bắc Bộ để có cớ tham chiến, ném bom và rải chất độc da cam bất chấp thường dân và thiên nhiên vô tội. Chúng ta phải thống nhất với nhau rằng sự tồn tại của chủ nghĩa khủng bố hay mafia đương nhiên có thật, cho dù những khái niệm này thoạt nghe chứa nhiều khiên cưỡng. Không ai biện hộ nổi cho cảnh người Việt giết nhau như ngóe vì tiền, vì những động cơ đê mạt, để rồi chính người bán thuốc lá lậu công khai nói tới zicaret maphia trước các cơ quan tư pháp. Thảm cảnh người cùng quẫn nhảy lầu trước khi tháp đôi sập tại New York chôn vùi mấy ngàn người sẽ phỉ nhổ mọi sự biện hộ.

Những xung đột do cội nguồn văn hóa không chỉ diễn ra ở cấp quốc gia dân tộc, mà còn ở từng nhóm chung lợi ích. Vậy ý tưởng của ông đề xướng và thảo luận nhằm thỏa thuận ở một mức nào đấy các tiêu chí cho phép giải quyết mâu thuẫn, sự chấp thuận những khác biệt, dị điểm, sẽ phải đi xa hơn nữa ngõ hầu tạo nhiều thiết chế liên đới chung quản lí những mâu thuẫn, quản lí khủng hoảng bất thường khiến UNO xung quanh bảy tám cường quốc công nghiệp, không thay đổi về chính sách khai thác tài lực, sẽ không chống đỡ nổi.
Thực tế cho thấy những cuộc thảo luận giữa các nhóm chung lợi ích, cộng đồng sắc tộc, ngành giới cũng không tránh khỏi hiểu lầm và áp đặt. Nhân danh chính kiến một tập thể, trong lịch sử nói chung đến nay, thường củng cố cho lối hành xử lấy tội ác trừng phạt tội ác.

Nội ngay trong một cộng đồng chung ngôn ngữ, chung nôi văn hóa, những cuộc tranh chấp quyền lợi đẫm máu trong thế kỷ qua đã từng biến con người thành những tha nhân dị mọ. Tức con người rời xa khỏi cái phần nhân tính thiện căn, khỏi phần hương hỏa nó ngỡ mình luôn đại diện. Ðặc biệt, trên những đất nước nội chiến lâu dài, dễ thấy một hiện tượng tổn thương hoặc méo mó tâm lí ghê gớm nơi con người, tới mức khiến số đông trở thành những đám khùng điên, quốc gia trở thành một nhà chứa bệnh nhân tâm thần. Nhiều bộ tộc ở Afghanistan, tôi không dám miệt thị dân tộc này, hôm nay cũng vậy, họ đê mê trong nỗi say máu và bạo lực hầu như không thể thiếu vắng trong sinh hoạt thường nhật. Cho nên ta chấp nhận cái thực tế cần sửa đổi, cải cách, không ủng hộ một sự tàn phá bằng bạo lực, bằng kỹ thuật tin học hoặc bằng cấm vận. Hãy để bình yên, cho dân tộc Việt Nam này, cũng từng lú loạn tâm thần, hằm hằm sắc diện những năm toàn trị, trong hoà bình đang tự hồi phục, tự chữa vết thương của mình. Chúng ta tập quên đi những hận thù cố hữu, nếu thật sự vì con cháu còn được cơ gặp gỡ nhau. Họ sống tại đất Ðức, lập mưu khủng bố Mĩ tại đất Ðức. Họ sống tại Mĩ, nuôi mộng Lý Tống tính chuyện đánh bom vào một điểm nào đó tại Sài Gòn, Hà Nội. Quan hệ Việt Mĩ dần bình thường sau chuyến Bill Clinton viếng thăm, và hiệp định thương mại kí kết, mà đám người đó cứ nhăm nhe súng ống, há chẳng phải là bạo hành của khủng bố, của giống sài lang.

Tương lai, cuộc thảo luận phải thẳng thừng hơn về nguyên tắc, theo tôi nghĩ, bằng khởi điểm tôn trọng cá nhân, đảm bảo tuyệt đối ý kiến cá nhân và không được nhân danh một nhóm người, không được nhân danh tập thể. Ngay ở lớp thấp nhà trường phải đề giáo án về một bộ môn học sửa đổi thói quen suy nghĩ, sao cho từng người phải sắp xếp, tái cấu trúc lại nội dung giá trị, và chỉnh lí liên tục luồng nghĩ của mình.

Nhưng rồi con người duy chỉ sửa chữa, chỉ phản tỉnh, giác ngộ được với vị thế của một cá nhân độc lập trong điều kiện khung là chế độ dân chủ, dẫu nó luôn bị thao túng dồn ép, lường gạt bởi nhiều thế lực. Làm công dân thời nay tức cũng phải chịu làm quen với nỗi chua cay làm nạn nhân. Châu Âu có vẻ ý thức được điều đó hơn, nên nhà nước của họ tránh mị dân một cách trắng trợn. Thư viết gửi cho công dân ghi rõ, thưa các đầu thuế kính mến. Lời xưng hô ấy nghe nó nhạt, nó lạnh, nhưng thật tình và được việc, nghe đáng tin cậy hơn so với giọng hô hào của ông ứng cử viên đảng CDU (**) đến vận động, quảng cáo tranh cử ở công viên gần nhà tôi, được dân tình chăm chú nghe khi ông ta hứa hẹn nhiều về chính sách tài chính, kinh tế, tạo công ăn việc làm, vv. Lúc ông hăng say vung tay lên kêu “thưa đồng bào”, thì bà con sinh nghi và lủi dần, cuối cùng chỉ còn trơ lại mấy thùng bia đảng sắp sẵn mang đi phân phát.

Trong bối cảnh thời hiện đại toàn cầu dành cho con người với tư cách cá nhân, cá thể không mấy sáng sủa đó, số phận con người đơn lẻ đâu khác cánh bèo dập dềnh trên những đợt sóng hiện đại của khoa học công nghệ, mỗi lúc càng nhỏ bé và hoang mang trước những thế lực phi nhà nước hoành hành chi phối đời người bằng những biện pháp quản lí tinh vi ngày thêm gắt gao và phi nghĩa.Vậy ngay từ bây giờ chuẩn bị cho trẻ em trong trường sớm có cái nhìn sát thực tế, sớm quen với những bi quan, thất vọng, thất bại một cách có liều lượng, và tinh thần phản kháng công dân sẽ là công việc hẳn không làm cho con người hạnh phúc, nhưng nó giúp cho cá nhân bé bỏng yếu ớt đó có tinh thần vượt khó hơn chăng? Mâu thuẫn sẽ càng âm ỷ hơn giữa các sắc tộc, chừng nào nền dân chủ Âu châu còn thiếu minh bạch trong suốt. Chính sách ngoại kiều và các hoạt động của sở ngoại kiều của Ý và Ðức ngày càng trở nên tù mù, vô nguyên tắc, biến sự không biết đường nào mà lần thành nguyên tắc như hoạt động của cơ quan an ninh quốc gia cũ của Cộng hòa dân chủ Ðức. Các quốc gia công nghiệp hàng đầu, nhằm cân bằng lứa tuổi xã hội, thực hiện những chỉ tiêu đầy tham vọng và đáp ứng những chế độ phúc lợi vô cùng xã hội chủ nghĩa, bắt buộc sẽ phải đón nhận những luồng người di cư từ những nước nghèo đổ đến. Có thể mới đầu họ là gánh nặng cho xã hội. Nhưng chừng nào thanh niên ở Ðức ở Ý, không chịu, không muốn hoặc không thể lập gia đình, sinh con, thì những cháu bé do người nước ngoài đẻ ra sẽ là những lực lượng nòng cốt đảm trách những phúc lợi xã hội tương lai cho chính nước chủ nhà. Hàng ngày người dân nghe bao tin không hay về người nước ngoài nhận trợ cấp và lạm dụng chính sách cứu tế tạm thời. Ngay lúc đó các nhà trẻ nhà trường, trước nguy cơ đóng cửa vì không đủ số điểm danh, vui mừng săn đón con em của gia đình ngoại kiều vào nhập học. Có lần tôi thấy hai cô bảo mẫu đưa các bé trong một lớp mẫu giáo qua đường gồm năm cháu Thổ Nhĩ Kì, bốn cháu Việt Nam và bốn cháu người Phi, chỉ có hai cháu người Ðức. Ðúng là cảnh bố gà mẹ vịt con bồ nông dắt díu nhau. Tôi thấy vui vui mắt mà mơ tưởng đến viễn cảnh xã hội người lớn của ngày mai. Chúng ta hãy bắt đầu từ những nhóm người nhỏ nhoi non yếu ấy.

Ðọc những dòng này, có thể ông nghĩ rằng tôi ghét Tây phương. Hơn một ngàn lần không, không, tôi không oán hận phương Tây, trái lại rất cảm tình với Âu Mĩ là khác, nếu, dù không muốn, khuynh hướng đơn cực thắng thế bắt buộc phải lựa chọn. Thiện cảm mà vẫn nhắc lại việc Mĩ đổ bom đạn vào Afghanistan, rải lương thực cứu tế và hứa hẹn đầu tư khôi phục, trong khi họ chưa bị Việt nam tấn công quân sự tại lãnh thổ, hủy diệt bao sinh mạng và cả triệu hecta rừng, đến lúc này chưa hề nói tới bồi thường. Nếu ai hỏi tôi về nguyên do cảm tình thực sự của tôi với Mĩ, với Ý, với Ðức, quả tình tôi sẽ rất đắn đo tìm câu trả lời. (Không phải bình sinh tôi tẩy chay Trung Hoa và Nhật Bản. Rượu Mao Ðài, rượu Thiệu Hưng ngon miệng người du lịch nhưng có thể khiến chính trị gia lân bang đê mê tới mức vã mồ hôi cầu hòa cắt đất.). Bảo rằng Mĩ tự do, bảo phim Mĩ nhạc Mĩ hay, thì lập luận đó chỉ mới được các cô cậu tuổi con mình hoan hô. Nói vì người Ðức chăm như người Việt và cả hai dân tộc đều kiên trì thống nhất đất nước, e câu nói đó chỉ phấn khích người say. Nói vì đàn bà Ý có vẻ đẹp phương nam như cô gái Việt, người Ý cũng hồ hởi mến khách như người Việt, e ý tán tỉnh nông cạn lộ liễu. Hoặc nước Ý là quê hương của nhà đạo diễn phim Bertolucci, tác giả của 1900 và Hoàng đế Trung hoa cuối cùng, khiến tôi hiểu về Ðông Tây hơn chồng sách giáo khoa, e cũng chỉ làm vui lòng nhau trong tọa đàm chúc tụng. Thưa ông Umberto Eco, có lẽ câu trả lời thật nhất, tuy thoáng buồn vẫn là: chúng ta quý nhau bởi không nặng nợ truyền kiếp, và điều đúng hơn: vì chúng ta ở xa nhau.
 

2002-PKĐ
____________________
(*) SED - Ðảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Ðức
(**) CDU- Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo


Bài đăng trên talawas

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

Trên đôi cánh của lời ca

Heinrich Heine (1797-1856)


Tranh © Jean-Baptiste Camille Corot (1796-1875), họa sĩ Pháp

Trên đôi cánh của lời ca
Người yêu ơi, anh đưa em xa
Anh biết bình nguyên trải lối
Miền tươi đẹp nhất sơn hà.

Nơi đó vườn đỏ rực bông
Nằm im trong ánh trăng trong
Những bông hoa sen ngóng đợi
Người chị thân thiết của mình.

La lan nô cười nũng nịu
Ngước nhìn lên các vì sao
Ghé tai, hoa hồng thầm kể
Truyện cổ tích hương ngạt ngào.

Sơn dương tinh anh ngoan đạo
Nhảy qua và vểnh tai nghe
Ngòai xa rì rào sóng nước
Của dòng thần thánh sơn khê.

Nơi dưới bóng dừa ta ước
Chúng mình hạ cánh xuống đây
Và uống tình yêu, tĩnh lặng 

Và mơ một giấc mộng đầy.

© Phạm Kỳ Đăng dịch
từ nguyên tác tiếng Đức

Auf Flügeln des Gesanges...

Heinrich Heine (1797-1856)

Auf Flügeln des Gesanges,
Herzliebchen, trag ich dich fort,
Fort nach den Fluren des Ganges,
Dort weiß ich den schönsten Ort.

Dort liegt ein rotblühender Garten
Im stillen Mondenschein;
Die Lotosblumen erwarten
Ihr trautes Schwesterlein.

Die Veilchen kichern und kosen,
Und schaun nach den Sternen empor;
Heimlich erzählen die Rosen
Sich duftende Märchen ins Ohr.

Es hüpfen herbei und lauschen
Die frommen, klugen Gazell'n;
Und in der Ferne rauschen
Des heiligen Stromes Well'n.

Dort wollen wir niedersinken
Unter dem Palmenbaum,
Und Liebe und Ruhe trinken
Und träumen seligen Traum.

Một bản tiếng Anh:

On Wings of Song

On wings of song,
my love, I'll carry you away
to the fields of the Ganges
Where I know the most beautiful place.

There lies a red-flowering garden,
in the serene moonlight,
the lotus-flowers await
Their beloved sister.

The violets giggle and cherish,
and look up at the stars,
The roses tell each other secretly
Their fragant fairy-tales.

The gentle, bright gazelles,
pass and listen;
and in the distance murmurs
The waves of the holy stream.

There we will lay down,
under the palm-tree,
and drink of love and peacefulnes
And dream our blessed dream.



Chú thích của người dịch

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm các bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Nguyễn Xuân Sanh và Đào Xuân Quý.

Tranh: Jean-Baptiste Camille Corot (1796-1875), họa sĩ Pháp, đặc biệt nổi tiếng vì tranh phong cảnh.

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

Tự thỏa mãn: Người Đức đang no nê một cách nguy hiểm

Henrik Müller 

Kinh tế phát triển, công ăn việc làm, thời tiết đẹp: Người Đức vô cùng viên mãn. Chỉ có điều đừng có ai từ bên ngoài quấy rầy vào đây: Không chỉ người nhập cư mà còn cả chính sách đi kèm với Hiệp định thương mại tự do. Thái độ đề phòng này nguy hiểm (SPIEGEL ONLINE).

Tranh của ©Horst Janssen, họa sĩ Đức (1929-1995)

Tất cả vẫn còn ổn thỏa: kinh tế phát triển, trưng dụng lao động mức cao, các doanh nghiệp cung cấp những con số đứng đắn (hãy để ý tới kết quả nửa năm của nhiều siêu hãng trong tuần này). Không nơi đâu trên châu Âu có nhiều người coi hiện trạng kinh tế là tốt (86%). Và còn hay hơn: 91% đáng để ý trong số dân Đức hài lòng với cuộc sống của riêng mình. Cộng hòa Liên bang Đức – một đất nước hạnh phúc. Bức tranh này cho thấy từ kết quả thăm dò ý kiến dựa theo tiêu chí của Liên minh Âu châu.

Vậy là tất cả tốt đẹp phải không? Bên dưới bề nổi dễ chịu lộ ra sự tự thỏa mãn no nê. Không có sự thay đổi thì hơn, đừng có thử nghiệm gì cả, để nguyên tất cả như nguyên trạng thì hơn. Một khuynh hướng nguy ngập trước tiên dễ thấy ở ba chủ đề: sự nhập cư, thương mại quốc tế và thái độ đối với những công ty lớn.

Một vài con số về một trong ba chủ đề:

• Tại không một đất nước EU nào (ngoại trừ Malta), sự nhập cư chiếm vị trí cao như vậy trong ý thức về vấn nạn quốc gia, như cuộc thăm dò ý kiến theo tiêu chí Liên minh châu Âu cho thấy. Đối với người Đức, với một khoảng cách nào đó, sự nhập cư là vấn đề xã hội lớn nhất – tuy rằng chỉ có 8 % cho rằng cá nhân họ bị liên lụy tới vấn đề này. Ngay cả tại Ý và Hy Lạp, những quốc gia tuyến đầu nhận người tỵ nạn hiện thời rõ ràng chịu đựng quá tải, thái độ chung cũng không bác bỏ như vậy. Thời gian qua số đông người Đức coi người ngoài khối EU kéo vào ngày một đông hơn là vấn nạn. Ngày càng ít hơn công dân Đức cho rằng, người nhập cư đóng góp „một phần lớn“ cho đất nước.
Rất đáng để tâm trong một đất nước vào những thập kỷ tới nếu không có sự nhập cư sẽ hứng chịu sự chìm đắm không gì so sánh.

• Trong không một đất nước nào thuộc khối EU (ngoại trừ Áo) số đông người càng ngày càng nhiều hơn lên chống lại Hiệp định Thương mại và Đầu tư (TTIP) dự trù ký kết với Hoa kỳ. 51 % người dân Đức phản đối hiệp định này, rõ ràng nhiều hơn so với dạo cách đây nửa năm; Hiệp định này chỉ được 31% người hưởng ứng. Còn không khắp nơi trong khối EU hiện diện số đông bộ phận ủng hộ TTIP: ở Pháp, Ý, Tây Ban Nha và cả trong những nhà nước thịnh vượng phía Bắc như Thụy Điển và Anh cũng như trong các nhà nước miền Đông đang vươn lên như Ba Lan và Tiệp. Người dân Âu châu còn lại nhìn ra trước hết vận hội của mình ở một sự gắn kết kinh tế sâu sắc với Hoa Kỳ. Trong những nhà nước nói tiếng Đức thì sự thể không vậy: ở đó mạo hiểm che mờ tất cả.
Rất đáng để tâm đối với những nền kinh tế quốc dân phụ thuộc vào xuất khẩu ăn mừng những thắng lợi lớn trên thị trường thế giới bên ngoài khu vực EU- và những nền kinh tế này nếu không có những thương vụ nảy nở cho tới nay với Mỹ và Trung quốc hẳn từ lâu đã bị cuốn phăng vào xoáy chìm của cuộc khủng hoảng đồng Euro.

• Trong không một nước nào thuộc khối EU, thái độ chung đối với những công ty lớn lại đầy tính phê phán như vậy. Trong khi tại nơi khác, các siêu hãng thường hưởng sự tin cậy của số đông đáng nể người dân, thì tại nơi đây ngự trị một thái độ ngờ vực rõ rệt, như cuộc thăm dò ý kiến vào mùa thu trước cho thấy.
Rất đáng để tâm trong một đất nước có nhiều hãng lớn tích cực hoạt động ở bình diện quốc tế đang cắm đất như không một nơi nào khác trên châu Âu.
Để khỏi bị hiểu lầm: vấn đề ở chỗ không nên đinh ninh nhập cư là không có vấn đề một cách không hạn chế, rằng hiệp định TTIP không có mạo hiểm gì và các tập đoàn đa quốc gia trọn vẹn là những thiết chế mang đầy ân sủng. 


Tổng cộng lại mà thế đó lộ ra một thái độ căn bản có vấn đề: Ở đây có một dân tộc ngồi ỳ, coi mức sống sung túc của mình đã là đảm bảo và những thành tích của riêng mình trên những thị trường thế giới là cái đã có sẵn.

Và dân tộc ấy tin rằng không phải cố công cất bước hội nhập tiếp nữa. Không chỉ ở khâu mở cửa xã hội cho người nhập cư. Cả trong lĩnh vực thương mại thế giới. Cả ở châu Âu, nơi chính phủ CHLB Đức trong nước cờ treo Hy Lạp chấp nhận mạo hiểm một sự chia rẽ trong khối Euro và biết rằng đã bỏ lại một số đông nhân dân đằng sau lưng.


Ở đó, sự tranh giành mức sống thịnh vượng về tương lai sẽ khốc liệt hơn. Bởi chưng động cơ quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế Đức thần kỳ lần 2 kéo dài từ năm 2006 đã mất đi sức lực của mình: Sự bùng nổ của các nước đang phát triển trước hết đã đi vào hồi kết. Trung quốc đang rệu rã dưới sự phát triển đang co lại và dưới tác động hậu quả của bong bóng bất động sản nợ nần tài chính (hãy chú ý những số liệu cập nhật về sản xuất công nghiệp Trung quốc vào hôm thứ Tư). Nga và Brazil đang mắc kẹt trong những khủng hoảng sâu rộng. Những thị trường xuất khẩu (của Đức) đang có nguy cơ co hẹp lại.

Đơn giản bác bỏ thay đổi một cách thô lậu không phải là một khả năng chọn lựa tối ưu. CHLB Đức chỉ có thể thịnh vượng, nếu nó làm cả ba điều: thứ nhất củng cố thị trường bản địa châu Âu bằng mọi phương tiện, thứ hai đào sâu quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ và thứ ba, tăng cường cơ sở quê hương bản quán thông qua việc nhập cư rộng lượng và những chiến lược tạo hội nhập có chủ đích.

Đòi hỏi đặt ra là sự cởi mở và hứng thú thử nghiệm – trong các phương diện xã hội, kỹ thuật, chính trị, văn hóa và kinh tế. Ai ngồi dựa thõng no nê toàn cầu hóa, sống một cách nguy hiểm.

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức
Nguồn: SPIEGEL ONLINE

Về tác giả:
Henrik Müller là giáo sư ngành báo chí về chính sách kinh tế tại trường Tổng hợp Dortmund.

Tranh: Chàng trai uống rượu, tranh của Horst Janssen (1929-1995) họa sĩ Đức

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Nàng ấy từng là

Rainer Maria Rilke (1875-1926)


Tranh của © Tô Ngọc Vân (1906-1954)

Một đứa trẻ không mong, cũng bị đẩy
Khỏi kinh cầu mẹ nguyện đêm đêm
Và mãi mãi rời xa Khúc Kinh Lớn
Ban phát, đi suốt những kỷ nguyên.

Nàng ít ước nguyện - và chỉ thư thoảng
Tràn qua nàng như một tiếng khóc rung
Ước một đất nước với lều hồng tím (1)
Ước một giai điệu nhạc lạ lùng,

Ước những con đường trắng, không vẩn bụi
Rồi kết hoa hồng vào mái tóc trần
Mà chưa bao giờ tin vào tình ái
Cả khi trời sâu trong tiết mùa xuân.

©Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức


Sie war

Rainer Maria Rilke (1875-1926)


Ein unerwünschtes Kind, verstoßen
auch aus der Mutter Nachtgebet,
und ewig fern von jenem Großen,
das gebend durch die Zeiten geht.

Sie wünschte wenig - und nur selten
kam wie ein Weinen über sie
nach einem Land mit Purpurzelten,
nach einer fremden Melodie,

nach weißen Wegen, die nicht stauben -
dann bog sie Rosen sich ins Haar,
und konnte doch nie Liebe glauben,
auch wenn es tief im Frühling war.

Chú thích của người dịch:
(1) Hình ảnh quen thuộc miêu tả rạng đông.

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương tiếng Đức.


Tranh: Thiếu nữ bên hoa huệ của Tô Ngọc Vân (1906-1954)

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2015

Con mồi muốn tránh binh đao

Phạm Kỳ Đăng


Tranh của © Franz Marc (1880-1916) họa sĩ Biểu hiện Đức

Có vị cán bộ ngoại giao tâm đắc, chính trường các nước phương Tây qua các kỳ bầu cử hay thay đổi nhân sự cho nên bất ổn định. Suy luận như vị đó, tất nhiên nhà nước CHXHCN Việt Nam về đối ngoại ổn định hơn nhiều. Trong mỗi một nhà nước XHCN cũ, đường lối trong ngoài đều được quyết sách bởi một lãnh tụ và nhóm người lãnh đạo quyền uy. Nhiều lãnh tụ và lãnh đạo quyền uy cả đời, trực tiếp hay gián tiếp ký những bản giao kèo thỏa thuận với lãnh tụ và lãnh đạo „bạn“ lưu lại hết đời trong két sắt. Sau những cuộc thương thuyết đổi chác đó, họ ca ngợi những hiệp ước thỏa thuận đó là biểu hiện của „hữu nghị“, „thấm đẫm tinh thần quốc tế vô sản". Báo chí quảng bá thêm bằng ảnh hình sinh động như Nguyễn Phú Trọng ôm ghì Tập Cận Bình cúi xuống áp má, và hot nhất cho đến nay bức hình „khóa môi“ biểu dương tình thủy chung gắn bó giữa hai Tổng bí thư Erich Honecker và Leonid Brezhnev vài năm trước khi bức tường Berlin bị đạp đổ.

Trong hệ thống phe xã hội chủ nghĩa từng tồn tại, các nhà nước cộng sản trớ trêu thay nhận vị trí thang bậc bất bình đẳng quy định bởi nguyên tắc „tập trung dân chủ“ giữa các "đảng anh em". Thiếu hẳn một qui chế phản hồi và giải trình, các nhà lãnh đạo cùng „vô sản một nhà“ thương lượng với nhau, nhân dân không đóng vai trò gì trong những cuộc ký kết sau lưng họ. Như chính sách nhà nước độc đảng chuyên chính lấy bất nhất làm nguyên tắc, lấy bất ngờ làm kế sách sinh tồn, những kẻ nắm quyền ắt phải đi đêm mờ ám với nhau như vậy.

Nhiều từ chữ hoa mĩ ca ngợi những hiệp ước ra đời trong những hoàn cảnh nêu trên, che giấu nỗi ngậm đắng nuốt cay cho bên này, và tâm thế gian manh đắc thắng của bên kia. Nguy hiểm hơn, lề lối ngoại giao đầy cảm tính kiểu „môi hở răng lạnh“, „anh em vô sản“ đến „Thập lục kim tự „ và „Tứ hảo“ trong bối cảnh giao tiếp giữa các quốc gia văn minh với nhau, gợi lên những quan hệ gia đình - tộc hệ thời trung cổ, phong kiến, phản văn minh - tiến hóa và hôm nay không thể châm biếm hơn, gợi về một thực tế phũ phàng nhất: thời hiện đại không ở đâu đánh nhau đổ máu nhiều hơn nơi mấy „anh em“ trong phe xã hội chủ nghĩa.

Trước công luận quốc tế, sự kiện giàn khoan xâm phạm với tàu quân sự hộ tống thách thức nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, mới rồi đây đã bị Ngoại giao và Truyền thông Trung quốc xuyên tạc hẳn về bản chất. Trung quốc, còn kiện cả Việt Nam lên Liên Hiệp Quốc, sẽ trình ra các chứng cứ gồm cả các mật ước xưa nay. Mật ước, một ngày tòi ra trên báo chí công khai như công hàm Phạm Văn Đồng, sẽ là trái đắng cho người em ốm yếu càng ngày càng bấu chặt lấy „ông anh“ gian ác.

Công luận quốc tế phần nhiều xem vụ việc nghiêm trọng, kể cả tàu cá bị đâm chìm, chỉ là việc khổ lắm „cộng sản đánh nhau với cộng sản“. Chúng ta phải cay đắng thừa nhận điều này: đây là câu chuyện của hai nhà nước chưa trưởng thành, chưa có tư cách hội viên đầy đủ trong cộng đồng thượng tôn nhân quyền-dân chủ. Chỉ cần nhìn vào thực tế công an vị đảng dằn mặt người biểu tình, bắt bớ thêm blogger bất đồng chính kiến, siết chặt kiểm duyệt báo chí..., chắc chắn không một nhà nước nào trên thế giới tôn trọng và bênh vực nhà nước Việt Nam. Chúng ta phải khẳng định rằng, đang bị cật vấn gay gắt về nhân quyền, vị thế của nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế là rất thấp. Nhà nước độc đảng-công an trị bị cô lập, lẻ loi đứng trơ ra là vì thế.

Muốn kiện Trung quốc, trước hết Việt Nam phải đủ tư cách là một thành viên của công đồng quốc gia thế giới, nói tiếng nói chung với ngôn ngữ của các nước dân chủ. Tiếng nói lạc điệu của ông đại tướng Bộ trưởng bộ quốc phòng tuyên bố trên diễn đàn đối thoại Shangri-La tới tai nhiều người khác nào một lời khuyên, các vị hãy im lặng, để anh em chúng tôi đóng cửa bảo nhau.

Một vài ngày trước khi kẻ cướp Trung quốc đâm đơn khởi kiện Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, Thứ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Phú Bình còn lạc quan „ hiện nay không phải là giai đoạn khó khăn nhất của chúng ta so với những cuộc đấu tranh ngoại giao trước đây“. Câu nói này theo tôi hàm chứa nhiều sự hàm hồ, ngộ nhận về một cục diện đã hoàn toàn đổi khác. Việt Nam ngày hôm nay không phải là Việt Nam dân chủ cộng hòa nỗ lực vì độc lập dân tộc. Im tiếng không ủng hộ Philippines kiện, và bằng những văn bản ký kết với Trung quốc về biên giới, thuê rừng, khai thác bauxite, thuê cảng lợi bất cập hại..., Việt Nam của Nguyễn Phú Trọng ngày hôm nay đã tận tụy phó thân làm chư hầu toàn diện cho Trung quốc nào có cho ai ngăn cản.

Bất chấp thực tế lệ thuộc như vậy, sự đan xen nhiều mối quan hệ Việt Nam gắn sâu vào Trung quốc sẽ không là một cơ sở ngăn chặn một toan tính xâm lược. Nhìn về lịch sử thời hiện đại, đã có nhiều lúc người ta lầm tưởng rằng, móc được những mối quan hệ trao đổi, tạo được sự lệ thuộc về kinh tế, ký kết được những hợp đồng thương mại dài hạn và nói chung tạo được hẳn những thiết chế phụ thuộc lẫn nhau về kinh – tài, sẽ loại bỏ được nguy cơ chiến tranh. Lịch sử hiện đại, thấy được ở hai cuộc đại chiến châm ngòi trên những mô thức hợp tác trao đổi sâu rộng giữa các quốc gia, tuy nhiên đã không diễn ra như vậy, và nhân loại còn phải học lại bài học đó nhiều lần.

Huống hồ đây còn là một sự lệ thuộc áp đặt cho kẻ bị rút ruột toàn diện. Kẻ lệ thuộc phải đeo vòng kim cô ý hệ, tiêu thụ văn hóa của ông anh hảo lớ trên mọi kênh giao tiếp, ngồi bấp bênh trên ghế đu với cán cân thương mại thâm thủng, lại còn bị giữ chặt yết hầu ở những công trình trọng điểm. Hết làm tiền đồn, hiện giờ Việt Nam làm con mồi cho quái vật. Chủ nợ dễ bị dụ dẫn đến phát động binh đao đánh con nợ với tâm thế đằng nào cũng được cả. Việt Nam của Nguyễn Phú Trọng múa nhanh theo gậy của Tập Cận Bình, đằng nào cũng múa vào mồm Bắc Kinh cả, không xơi thì để làm gì.

Trung quốc đã kiện trước, hẳn Việt Nam, bỏ lỡ nhiều cơ hội trước đó, bước đường cùng phải kiện. Việc kiện Trung quốc về chủ quyền hai quần đảo có thể dẫn tới việc lật lên nhiều lá bài và những mật ước. Để chuẩn bị về mặt nhận thức, người dân phải được làm quen và phải chịu đựng được sự sụp đổ của những huyền thoại gốc, những hào quang của lãnh tụ và lãnh đạo và sâu xa hơn nữa, những gì ngụy tạo làm nên chiến thắng và quang vinh cho một đảng muốn vĩnh viễn độc tài bất chấp quy luật lịch sử.

Hãy khoan nói tới tinh thần quật khởi của người Việt. Hiện nay người dân Việt Nam đều muốn tránh đổ máu, phải xem nội phản ít nhất nguy hiểm như ngoại xâm. Chúng ta đừng bàng quan, hãy kiên quyết nói không với lề thói ngoại giao „anh em“, kiên quyết lên án những mưu toan ráo riết đi đêm tiếp tục bán nước của người đứng đầu thể chế phi dân chủ.

Ý nghĩ, Liên Hiệp Quốc sẵn sàng đứng ra làm trung gian cho Việt Nam và Trung quốc thương lượng để rút giàn khoan đi khiến tôi lo ngại ở một viễn cảnh. Có lẽ Trung quốc ra tay hơi sớm. Về lâu dài nhà nước của Tập Cận Bình cần một Việt Nam tay sai dặt dẹo về thể xác và tinh thần, như một con nghiện bấu víu làm ra 10 chi 6 cho quốc phòng và cho an ninh chỉ giỏi trấn áp „thù địch“ và „phản động“. Giàn khoan rút đi, nhưng cái thiết chế độc đảng tay sai với những lãnh đạo phò Trung quốc đứng đầu vẫn như một cỗ máy hắc ám treo lơ lửng trên đầu nhân dân Việt Nam. Chính cái thiết chế đó rước thêm vào nhà nạn binh đao, đưa đại họa về cho dân tộc.

©Phạm Kỳ Đăng
Bài đăng trên Dân Luận

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

Mùa thu (Friedrich Hölderlin)

Friedrich Hölderlin (1770 - 1843)

Mùa thu vàng, tranh © Isaak Iljitsch Lewitan (1860-1900) họa sĩ Nga

Thiên nhiên rạng rỡ: sự xuất thế trên tầm cao hơn
Nơi ngày kết với bao niềm hoan hỷ,
Quả là năm huy hoàng đang hòan mĩ,
Trái quả quyện hòa khấp khởi ánh hào quang.


Trái đất tròn, như thế đấy điểm trang, và hiếm khi
âm thanh dội vọng vang qua đồng vắng, mặt trời
ấm ngày thu tỏa nắng, bao đồng trải
rộng dài một viễn cảnh, làn không khí vờn qua


những cành nhánh cùng rì rào niềm phấn chấn,
Về sau những cánh đồng trong thinh không đan chuyển sang nhau,
sống trọn ý nghĩa hình ảnh sáng màu
như một bức tranh rực rỡ ánh vàng bao bọc.


© Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên bản tiếng Đức:

Der Herbst

Das Glänzen der Natur ist höheres Erscheinen,
Wo sich der Tag mit vielen Freuden endet,
Es ist das Jahr, das sich mit Pracht vollendet,
Wo Früchte sich mit frohem Glanz vereinen.


Das Erdenrund ist so geschmückt, und selten lärmet
Der Schall durchs offne Feld, die Sonne wärmet
Den Tag des Herbstes mild, die Felder stehen
Als eine Aussicht weit, die Lüfte wehen


Die Zweig' und Äste durch mit frohem Rauschen,
Wenn schon mit Leere sich die Felder dann vertauschen,
Der ganze Sinn des hellen Bildes lebet
Als wie ein Bild, das goldne Pracht umschwebet.


Chú thích của người dịch

Johann Christian Friedrich Hölderlin (1770 – 1843) đứng vào hàng những nhà thơ quan trọng nhất trong tiếng Đức. Tác phẩm độc đáo của thi sĩ, chiếm một vị trí độc lập bên trào lưu Cổ điển Weimar và Lãng mạn, là một đỉnh cao của văn chương Đức nói riêng và văn chương phương Tây nói chung.


Mùa thu vàng, tranh của © Isaak Iljitsch Lewitan (1860-1900) họa sĩ Nga
 

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015

Bài thơ "Người Bố" của Günter Grass

Lorenz Jäger

Tranh của Edvard Munch (1863-1944): Họa sĩ Na Uy

Trong bài thơ này có chút Độc Ác nhúng tay. Nói đến mọi giác quan: thính giác, vị giác, khứu giác. Một cách điêu luyện, bài thơ „Người Bố“ của Günter Gras nắm bắt không khí tiềm ẩn đe dọa của những năm năm mươi.

Tất cả diễn ra trong phạm vi bao quanh những đồ vật quen thuộc và cuộc sống thường nhật. Trí phóng tưởng của nhà thơ này không phác thảo ra những thế giới mang khí vị phương xa, hiện thực theo một cung cách gần như tiểu thị dân và trung bình tuyệt đối. Tuy thế không có gì lạ lùng hơn là cái quen thuộc này. Để có thể nhận ra tài nghệ điêu luyện, vâng, đôi khi lão luyện của Grass, người ta phải lùi lại một chút khỏi bức tranh công luận tô nhấn quá mức vào màu sắc chính trị, được chính ông phác họa từ những năm sáu mươi, và chú trọng vào tác phẩm tinh tế của nhà thơ. Trong bài thơ này có một chút Độc Ác nhúng tay – một chất Độc Ác xuất hiện đối với cái nhìn của con trẻ. Ánh mắt này không nhất thiết phải lừa mị. Một tai ương ngự trên gia đình này – nhưng mà, nếu là một gia đình thì, náu ẩn đâu rồi người mẹ những với lòng thành tâm khuyên nhủ có thể xua đi được tai ương?

Người ta tưởng như gặp lại mình trong một truyền kì rùng rợn của anh em nhà Grimm hoặc là trong một trong những truyện cổ tích của Ludwig Tieck có thể phù phép ra một không khí nhơm nhớp như vậy mà không cần phải có một lời qua tiếng lại. Bình sinh, một người bố có thể là một thần lão Jupiter(1) nhân từ, nhưng mà cũng có thể là một quỷ thần Saturn(2) gớm guốc ăn thịt trẻ con – Grass khá am tường thần thoại. Tất cả cứ coi như là tình cờ, hay là bước đi của sự vật, như chúng vốn là như thế: những khối xây hình nhào đổ, và sữa thành ra chua. Thì đã sao? Nhưng mà cái đó, diễn ra trong bài thơ, đã dồn đẩy người tham gia vào mọi lỗ chân lông. Tất cả các giác quan đều được nói tới: thính giác, vị giác, khứu giác. „Thế thì cái gì đây“ không nêu ra trở thành một không khí bao trùm, mà trẻ con không thoát ra khỏi.


Không có sự hóa giải

Hans Ulrich Gumbrecht (3) từng nói về một kiểu „căng thẳng thần kinh bạo lực“ đã quyết định thời tiết của những năm năm mươi“. Đó chính là chìa khóa. Và Gumbrecht nhìn ra một „tiềm ẩn như cội nguồn của hiện tại“, một điều không thể nói ra được; còn chưa đi đến hiện tượng đầy đủ, nhưng mà có thể cảm nhận. Tôi không biết từ ngữ nào hay hơn cho bài thơ này. Nhưng mà tiềm ẩn thực ra là cái gì cơ chứ? „ Trong hoàn cảnh của một tiềm ẩn ta có thể an tâm rằng, có chút gì nơi đây ta không nắm bắt hoặc có thể sờ mó được. Không những ta không thể nói từ đâu chúng ta có được sự chắc chắn hiện hữu này, mà còn không thể nói, cái ẩn náu chính xác ra đang ở đâu“. Sự xung đột không tìm thấy ngôn ngữ diễn đạt hơn ngoài những cái nhìn câm lặng. „Lấp liếm“ có lẽ là từ dùng sai, vâng người ta nghe thấy, lò sưởi lạch cạch, nó đã phải có lý do của nó. Các đứa con trao đổi cho nhau hiểu biết không sao diễn tả về cái điều rằng, ông bố có thể biết câu trả lời – nhưng có lỗi với chúng.

Tập thơ Đường Ray Ba Ngả gồm bài thơ này xuất bản năm 1960, bốn năm sau tập thơ đầu tay „Những lợi thế của gà mái gió“. Giờ đây sự tiềm ẩn của những năm năm mươi đã đứng trên ngưỡng cửa của sự hình thành tiếng nói, nó có thể được chủ đề hóa; thực ra chính vì vậy bây giờ nó không còn là sự tiềm ẩn một trăm phần trăm nữa; nó được trình bày, nó đi vào ánh mắt.

Người bố cũng bị cuốn vào tất cả hệ lụy, ông cũng không thoát khỏi không khí tiềm ẩn đó. Ông đã nhận ra rất chuẩn xác ánh mắt của những đứa con hướng vào mình, ông vượt qua cả đêm không ngủ. Ông muốn biết, ông là ai, và ông nhìn vào gương. Ngay cả bây giờ nguyên còn sự tiềm ẩn, không đi tới hóa giải. Một Grass nọ cả thế giới đều biết, trong chừng mực càng nhiều hơn, càng muộn mằn hơn tìm cách biến hóa sự tiềm ẩn này vào diễn đạt chính trị, thì nhưng thế thường khi đã không mang ích lợi cho thơ ca của ông. Nhưng mà các đứa con, vừa còn chăm chắm nhìn người cha chỉ có ý trừng phạt, chỉ vài năm sau đã thành người cáo giác công khai- và chẳng lẽ các đứa con của con trẻ đã không lĩnh nhận lấy vai trò này sao? Như một nhà thơ khác, nhà thơ Gerald Zschorsch (4) trẻ hơn đã diễn đạt điều này, hậu chiến đã sải bước „từ lớp tuổi trẻ này đến lớp tuổi trẻ kia“.

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức 

Nguồn: FAZ

Người Bố

Günter Grass (1927-2015)

Nếu có tiếng lạch cạch trong lò sưởi
lũ trẻ con chăm chú nhìn ông
vì có tiếng gõ trong lò sưởi

Nếu đồng hồ điểm giờ và
những khối lắp hình nhào, ấy tại đồng hồ,

những đứa trẻ trân trân nhìn người bố

Nếu sữa rớt và chua
những cái nhìn, không chuyển lay, trừng phạt
vì cái nhìn của ông làm chua sữa

Nếu có mùi khét như chập điện
trong tối đêm đám trẻ trân trân nhìn ông

bởi vì bốc lên mùi điện chập.

Mãi tới khi các con ông ngủ

Người cha nhìn vào gương
bởi vì ông vẫn không sao ngủ.

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Der Vater


Günter Grass (1927-2015)

Wenn es in der Heizung pocht,
schauen ihn die Kinder an,

weil es in der Heizung pocht.

Wenn die Uhr schlägt und Bauklötze

stürzen, schaun die Kinder,
weil die Uhr, den Vater an.

Wenn die Milch gerinnt und säuert,
strafen unverrückbar Blicke,
weil sein Blick die Milch gesäuert.

Wenn es scharf nach Kurzschluss riecht,
schaun im Dunkeln alle Kinder ihn an,
weil’s nach Kurzschluss riecht.

Erst wenn seine Kinder schlafen,
blickt der Vater in den Spiegel,
weil er noch nicht schlafen kann.


Chú thích của người dịch:

Günter Grass (1927 - 2015): Nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhà điêu khắc và đồ họa người Đức. Giải thưởng Nobel văn chương năm 1999.

Lorenz Jäger (sinh năm 1951): Nhà xã hội học và nhà báo, biên tập viên của tờ Frankfurter Allgemeine Zeitung

(1) Trong tôn giáo và thần thoại La Mã cổ đại, Jupiter (tiếng Latinh: Iuppiter) hoặc Jove là vua của các vị thần và là vị thần của bầu trời và sấm sét.

(2) Saturn (tiếng Latinh: Saturnus) là một vị thần nông nghiệp trong tín ngưỡng La Mã cổ đại và là một nhân vật trong thần thoại La Mã.

(3) Hans Ulrich Gumbrecht (sinh năm 1948): Nhà nghiên cứu , nhà nghiên cứu văn học và lịch sử văn hóa.

(4) Gerald Zschorsch (sinh năm 1951): Nhà văn Đức.

Tranh của Edvard Munch (1863-1944): Họa sĩ, nhà đồ họa người Na Uy.

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2015

Mùa thu (Theodor Storm)

Theodor Storm (1817 - 1888) 


Tranh của Emil Nolde (1867-1956), họa sĩ Biểu hiện Đức

Băng sóng trùng dương đàn sếu đi
Về Kim Tự Tháp cánh chim di
Sơn ca lâu cũng thôi ca hát
Đường én liệng chao đã đứt lìa.

Trong tiếng than thầm như thở lén
Gió mơn man chùm lá còn xanh:
Ngày hạ ngọt ngào, ôi đã hết
Đi mãi, một đi, chuyện đã đành!

Đã thấy sương dâng khắp cánh rừng
Thấy thầm hạnh phúc của lòng anh:
- Phải chi thế giới tươi đẹp muốn
Lụi tàn trong hương sắc, bình minh.

Lần nữa mà thôi ánh nắng trào
Xuyên tầng sương giá phủ trên cao,
Một tia chiếu ánh hân hoan cũ
Rào rạt trên đèo cao vực sâu.

Đồng nội rừng xa cùng chói sáng
Nhắc lòng ta tin mãi tâm can,
Sau mọi đông sầu, xa thuở trước
Có một ngày xuân đã mở màn.

© Phạm Kỳ Đăng dịch
từ nguyên tác tiếng Đức:

Herbst

Theodor Storm (1817-1888)

Schon ins Land der Pyramiden
Flohn die Störche übers Meer;
Schwalbenflug ist längst geschieden,
Auch die Lerche singt nicht mehr.

Seufzend in geheimer Klage
Streift der Wind das letzte Grün;
Und die süßen Sommertage,
Ach, sie sind dahin, dahin!

Nebel hat den Wald verschlungen,
Der dein stillstes Glück gesehn;
Ganz in Duft und Dämmerungen
Will die schöne Welt vergehn.

Nur noch einmal bricht die Sonne
Unaufhaltsam durch den Duft,
Und ein Strahl der alten Wonne
Rieselt über Tal und Kluft.

Und es leuchten Wald und Heide,
Daß man sicher glauben mag,
Hinter allem Winterleide
Lieg' ein ferner Frühlingstag.

Bản tiếng Anh (tham khảo)

Autumn

by Theodor Storm, translated from the German by Danny Zoldy

Already in the land of the pyramids
The storks flew over the sea;
Swallow’s flights have long concluded,
And the lark sings no more.

The wind, sighing in secret lament,
Caresses the last of the green;
And the sweet summer days,
Oh, they are gone, gone!

Fog has consumed the forest,
That your solemn fortune has seen;
All of scents and twilight
Want the beautiful world to fade.

But once more the sun breaks
Inexorably through the scents,
And a ray of the old joy
Trickles over valley and chasm

And brightens up wood and heath,
So that one may safely think
Beyond winter’s suffering
Lies a distant spring day.

Chú thích của người dịch:
Theodor Storm (1817-1888): Nhà văn, nhà thơ Đức.

Tranh thuốc nước của họa sĩ Đức Emil Nolde ( 1867-1956)

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...