Thứ Năm, 28 tháng 3, 2019

Tất cả là một

Rainer Maria Rilke (1875-1926)   


Tranh của © Wassily Kandinsky

Ở ven cánh rừng, một bận
Ta đứng bên nhau đơn côi,
trang hoàng như những ngọn lửa
cảm tất cả là một thôi.

Ta ôm chặt nhau khăng khít
ở trên mảnh đất xôn xao,
qua làn áo mềm sẽ lớn
như cành cây sát liền nhau.

Một làn gió thức dậy
thoáng lay chùm trúc đào tơ
- Em xem, ta nào đâu khác
Và đôi ta cũng đung đưa.

Tâm hồn anh cảm thấy
Ta dò dẫm cổng kín bưng.
Hồn hỏi em, trong lúc dừng
Em đã dẫn anh tới đó?

Và thế là em cười nụ
rạng rỡ, sáng trong thật là,
Chẳng mấy chốc ta dạo tiếp:
Những cổng mở ra...

Và ta đâu còn nhút nhát,
Đường ta sẽ chẳng chông gai,
sẽ thành đại lộ trải dài
từ ngày đã khép.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Alles ist eins

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Einmal, am Rande des Hains,
stehn wir einsam beisammen
und sind festlich, wie Flammen -
fühlen: Alles ist eins.

Halten uns fest umfasst,
werden im lauschenden Lande
durch die weichen Gewande
wachsen wie Ast an Ast.

Wiegt ein erwachender Hauch
die Dolden des Oleanders:
Sieh, wir sind nicht mehr anders,
und wir wiegen uns auch.

Meine Seele spürt,
dass wir am Tore tasten.
Und sie fragt dich im Rasten:
Hast Du mich hergeführt?

Und du lächelst darauf
so herrlich und heiter
und bald wandern wir weiter:
Tore gehn auf...

Und wir sind nicht mehr zag,
unser Weg wird kein Weh sein,
wird eine lange Allee sein
aus dem vergangenen Tag.

1909


Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của © Wassily Kandinsky (1866-1944): Họa sĩ, nhà đồ họa và nhà lý thuyết nghệ thuật người Nga-Xô viết lưu vong, đại diện quan trọng của Chủ nghĩa Biểu hiện, nhà sáng tạo nên Nghệ thuật Trừu tượng trong hội họa.

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2019

Cuộc đời tôi tự chọn

Hermann Hesse (1877–1962)    
 
Tranh của Franz Marc (1880-1916): Họa sĩ Đức

Trước khi tới đời này trên trần thế,
tôi được bày cho sống ra sao:
Này đây buồn bã, rồi đó lo âu
rồi khốn quẫn, gánh khổ đau nặng trĩu.
Là thói tật, nhắm lấy tôi mà níu.
là lỗi lầm, đã giam hãm lấy tôi,
cơn thịnh nộ đến mau, tôi máu huyết sục sôi
là thù hận, kiêu căng, tự hào và ngượng ngập.

Mà tuy thế cũng là những hân hoan xưa ngày nhật
của những giấc mơ đẹp, đầy ánh hào quang,
khi không còn hơn than trách và tai ương
Và nơi nơi chảy khơi nguồn phước lộc.
Nơi tình yêu ban người vướng đồ trần tục
sự an nhiên của kẻ được giải buông,
nơi con người thoát đau đớn thế nhân
được nghĩ suy như kẻ do thánh thần cao vời tuyển chọn.

Tôi được chỉ cho xem cái tồi cái tốt,
được chỉ cho muôn đủ đầy thiếu sót.
Được chỉ cho vết thương, từ đó máu ròng,
chỉ cho hành vi cứu độ của thiên thần.
Và như thế khi nhìn đời mai mốt
Một sinh thể là tôi nghe vấn tra ráo rốt:
- Liệu bấy thứ kia tôi có dám nghiệm sinh
Bởi giờ quyết nay hồ như điểm khắc!

Mọi tồi tệ, lại một lần, tôi cân nhắc:
„Đó là cuộc đời tôi muốn sống đời! “,
giọng rắn rỏi tôi đưa câu trả lời,
Và âm thầm đảm đương phận mới.
Như vậy đó tôi sinh vào thế giới
vậy mà thôi, lúc vào đời mới đặt chân.
Cả khi đời thường bất toại, chẳng thở than
Bởi tôi chưa sinh, đã một lòng vâng thuận.

©®Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức


 Das Leben, das ich selbst gewählt

Hermann Hesse (1877–1962)

Ehe ich in dieses Erdenleben kam,
ward mir gezeigt, wie ich es leben würde:
Da war Kümmernis, da war Gram,
da war Elend und Leidensbürde.
Da war Laster, das mich packen sollte,
da war Irrtum, der gefangen nahm,
da war der schnelle Zorn, in dem ich grollte,
da waren Haß und Hochmut, Stolz und Scham.

Doch da waren auch die Freuden jener Tage,
die voller Licht und schöner Träume sind,
wo Klage nicht mehr ist und nicht mehr Plage
und überall der Quell der Gaben rinnt.
Wo Liebe dem, der noch im Erdenkleid gebunden,
die Seligkeit des Losgelösten schenkt,
wo sich der Mensch der Menschenpein entwunden
als Auserwählter hoher Geister denkt.

Mir war gezeigt das Schlechte und das Gute,
mir ward gezeigt die Fülle meiner Mängel.
Mir ward gezeigt die Wunde, draus ich blute,
mir ward gezeigt die Helfertat der Engel.
Und als ich so mein künftig Leben schaute,
da hört' ein Wesen ich die Frage tun,
ob ich dies zu leben mich getraue,
denn der Entscheidung Stunde schlüge nun.

Und ich ermaß noch einmal alles Schlimme –
„Dies ist das Leben, das ich leben will!"
gab ich zur Antwort mit entschloss'ner Stimme
und nahm auf mich mein neues Schicksal still.
So ward ich geboren in diese Welt,
so wars, als ich ins neue Leben trat.
Ich klage nicht, wenn's oft mir nicht gefällt,
denn ungeboren hab' ich es bejaht.

Chú thích của người dịch:

Hermann Hesse: (Hermann Karl Hesse, cũng dưới bút danh Emil Sinclair, 1877 - † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói thảo nguyên) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.

Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.

Tác phẩm

Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ

Văn xuôi:
- Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết, Tuổi trẻ và cô đơn, Vũ Đình Lưu dịch.
- Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết.
- Tuổi trẻ băn khoăn (Demian, 1917), truyện dài, Hoài Khanh dịch.
- Siddhartha (1920), tiểu thuyết được Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch dưới tiêu đề Câu chuyện dòng sông.
- Sói đồng hoang (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.
- Đôi bạn chân tình (Narziss und Goldmund), Vũ Đình Lưu dịch.
- Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết.
- Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.

Tranh của Franz Marc (1880-1916): Họa sĩ Đức đại diện tiêu biểu phái Biểu hiện (Expressionism).

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2019

Người yêu nhất, hôm nay hãy nói

Heinrich Heine (1797 - 1856)

Tranh © Jean-Auguste-Dominique Ingres

Người yêu nhất, hôm nay hãy nói:
Em chẳng là hình ảnh mộng sao?
Như trong những ngày hè oi ả
Khối óc người thi sĩ dâng trào.

Nhưng mà không, cái miệng nhỏ ấy,
Đôi mắt kia ánh sáng yêu kiều,
Cô gái nhỏ ngọt ngào đáng yêu
Người thi sĩ không hề tạo tác.

Những con rồng mình giun, quái ác,
Ma hút máu và rắn đầu gà,
Những loài thú gớm trong thần thoại
Lửa thi nhân không đúc hun ra.

Nhưng em và mưu mô nham hiểm,
Và em gương mặt đẹp thanh tao,
Và ánh mắt chiên lành gian dối -
Nhà thơ đâu sáng tạo ra nào.

©®Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Liebste, sollst mir heute sagen

Heinrich Heine (1797 - 1856)

Liebste, sollst mir heute sagen:
Bist du nicht ein Traumgebild',
Wie's in schwülen Sommertagen
Aus dem Hirn des Dichters quillt?

Aber nein, ein solches Mündchen,
Solcher Augen Zauberlicht,
Solch ein liebes, süßes Kindchen,
Das erschafft der Dichter nicht.

Basilisken und Vampire,
Lindenwürm' und Ungeheu'r,
Solche schlimme Fabeltiere,
Die erschafft des Dichters Feu'r.

Aber dich und deine Tücke,
Und dein holdes Angesicht,
Und die falschen frommen Blicke -
Das erschafft der Dichter nicht.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy xử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Jean-Auguste-Dominique Ingres (1780-1867): Họa sĩ Pháp.

Thứ Tư, 13 tháng 3, 2019

Núi và lâu đài soi bóng

Heinrich Heine (1797 - 1856)
  
Tranh© của Jean-Baptiste Camille Corot

Núi và lâu đài soi bóng
Xuống dòng gương sáng sông Ranh,
Và thuyền tôi căng gió lướt
Trong làn nắng ánh bao quanh.

Yên lòng tôi nhìn sóng nước
Vàng kim nô giỡn, đan luồng:
Cảm xúc âm thầm thức dậy
Trong tôi sâu đáy tâm hồn.

Đon đả chào, và hứa hẹn
Vẻ yêu kiều quyến rũ thêm;
Tôi biết, mặt sông hào nhoáng,
Trong tàng cái chết, bóng đêm.

Ngoài sông vui, trong nham hiểm
Mi như hình ảnh người tình;
Nàng cũng nghiêng đầu vui vậy
Cũng cười ngoan đạo, tươi xinh.

©®Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Berg' und Burgen schaun herunter

Heinrich Heine (1797 - 1856)

Berg' und Burgen schaun herunter
In den spiegelhellen Rhein,
Und mein Schiffchen segelt munter,
Rings umglänzt von Sonnenschein.

Ruhig seh ich zu dem Spiele
Goldner Wellen, kraus bewegt;
Still erwachen die Gefühle,
Die ich tief im Busen hegt.

Freundlich grüßend und verheißend
Lockt hinab des Stromes Pracht;
Doch ich kenn ihn, oben gleißend,
Birgt sein Innres Tod und Nacht.

Oben Lust, im Busen Tücken,
Strom, du bist der Liebsten Bild!
Die kann auch so freundlich nicken,
Lächelt auch so fromm und mild.

Một bản Anh ngữ:

Mountains and castles gaze down

Heinrich Heine (1797 - 1856)

Mountains and castles gaze down
Into the mirror-bright Rhine,
And my little boat sails merrilly,
The sunshine glistening around it.

Calmly I watch the play
Of golden, ruffled waves surging;
Silently feelings awaken in me
That I had kept deep in my heart.

With friendly greetings and promises,
The river’s splendour beckons;
But I know it—gleaming above
It conceals within itself Death and Night.

Above, pleasure; at heart, malice;
River, you are the image of my beloved!
She can nod with just as much friendliness,
And smile so devotedly and gently.

English Translation © Richard Stokes

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:

"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy xử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Jean-Baptiste Camille Corot (1796-1875): Họa sĩ vẽ phong cảnh nổi tiếng người Pháp.

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2019

Những ngày qua

Hermann Hesse (1877–1962)  

Tranh màu nước © của Hermann Hesse

Những ngày qua mới nặng nề sao!
Không lửa nào có thể còn sưởi ấm,
Không mặt trời nào với tôi cười tỏa nắng,
Tất cả đều trống không,
Tất thảy lạnh và không xót thương,
Và kể cả những vì sao sáng
Đáng yêu, trân trân nhìn tôi không an ủi,
Từ khi tôi trong trái tim nghiệm trải,
Rằng tình yêu có thể chết đi.

©®Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Wie sind die Tage

Hermann Hesse (1877–1962)

Wie sind die Tage schwer!
An keinem Feuer kann ich erwarmen,
Keine Sonne lacht mir mehr,
Ist alles leer,
Ist alles kalt und ohne Erbarmen,
Und auch die lieben klaren
Sterne schauen mich trostlos an,
Seit ich im Herzen erfahren,
Daß Liebe sterben kann.

Chú thích của người dịch:

Hermann Hesse: (Hermann Karl Hesse, cũng dưới bút danh Emil Sinclair, 1877 - † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói thảo nguyên) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.

Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.

Tác phẩm
Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ
Văn xuôi:
- Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết, Tuổi trẻ và cô đơn, Vũ Đình Lưu dịch.
- Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết.
- Tuổi trẻ băn khoăn (Demian, 1917), truyện dài, Hoài Khanh dịch.
- Siddhartha (1920), tiểu thuyết được Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch dưới tiêu đề Câu chuyện dòng sông.
- Sói đồng hoang (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.
- Đôi bạn chân tình (Narziss und Goldmund), Vũ Đình Lưu dịch.
- Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết.
- Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.

Tranh màu nước của Hermann Hesse.

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2019

Rainer Maria Rilke (1875-1926)
 
Tranh © Paula Modersohn-Becker
XVI.

Chuông chiều đổ. Từ trên dãy núi lại
vọng dội về trong những thanh âm
trầm đục. Và anh cảm một làn khí lâng lâng
bay từ đáy thung lũng xanh, một làn lạnh giá.

Trên những lạch nước đồng trắng xóa
rả rích như thầm thào cầu nguyện của trẻ em;
đi qua cánh rừng cao vút rặng thông đen
như một sự về chiều, già nua thế kỷ.

Qua rãnh cầy của khe mây hé mở,
đêm ném những rặng san hô máu hồng
tới những vách đá – và chúng vỡ tung
không tiếng động từ những bờ vai thiết thạch.

XII.

Lữ khách đi khắp cùng thế giới
Hãy sải bước trong bình an!
Không một ai nào biết tới
Khổ đau nhân thế như anh!

Nếu anh với giác ngộ
soi sáng, bước khởi hành
Nỗi đau ngước đôi mắt
Nhòa lệ nhìn lên anh.

Ở bên trong tiềm ẩn
Dưới cùng đáy thẳm sâu,
Khi chúng gọi anh: “- Hãy hiểu!“,
Một thế giới đầy đớn đau.

Ngàn giọt lệ cất tiếng
vĩnh hằng nói, không thôi.
Và trong từng giọt một
Hình ảnh của anh soi!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ gồm 28 khổ thơ đánh theo số La mã.

Träumen

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

XVI.

Abendläuten. Aus den Bergen hallt es
wieder neu zurück in immer mattern
Tönen. Und ein Lüftchen fühlst du flattern
von dem grünen Talgrund her, ein kaltes.

In den weissen Wiesenquellen lallt es
wie ein Stammeln kindischen Gebetes;
durch den schwarzen Tannenhochwald geht es
wie ein Dämmern, ein jahrhundertaltes.

Durch die Fuge eines Wolkenspaltes
wirft der Abend rote Blutkorallen
nach den Felsenwänden. – Und sie prallen
lautlos von den Schultern des Basaltes.

XVII.

Weltenweiter Wandrer
walle fort in Ruh ...
also kennt kein andrer
Menschenleid wie du.

Wenn mit lichtem Leuchten
du beginnst den Lauf,
schlägt der Schmerz die feuchten
Augen zu dir auf.

Drinnen liegt – als riefen
sie dir zu: Versteh! –
tief in ihren Tiefen
eine Welt voll Weh ...

Tausend Tränen reden
ewig ungestillt,
und in einer jeden
spiegelt sich dein Bild!

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Paula Modersohn-Becker (1876-1907): Nữ họa sĩ Đức, bạn của nhà thơ.

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2019

Dạ Tình Ca

Georg Trakl (1887 - 1914)

Tranh © Edvard Munch (1863-1944)
 
 
Dưới vòm trời sao, kẻ cô độc
Bước chân đi qua giữa đêm khuya
Lòng rối bời cậu bé tỉnh mơ
Mặt cậu xám trong trăng tàn tạ.

Cô gái điên buông làn tóc xõa
Khóc bên ô cửa, kín chấn song.
Hồ nước, qua chuyến đi êm ả
Rất tuyệt vời lả lướt tình nhân.

Trong rượu vang, sát nhân cười bệch
Kẻ ốm kinh sợ nỗi tử thần
Bà xơ nguyện mình truồng, thương tích
Trước ê chề thập tự nước Hồng Ân.

Người mẹ khẽ hát trong giấc ngủ.
Rất hiền hòa nhìn đêm đến bé con
Với đôi mắt hoàn toàn chân thực.
Nhà thổ vang tràng tiếng cười giòn.

Dưới lỗ hầm, bên ánh dầu mỡ
Người chết đưa tay trắng vẽ chi
Lên vách một sự nín câm bỉ báng
Người ngủ đang còn vẫn thầm thì.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Romanze zur Nacht

Georg Trakl (1887 - 1914)

Einsamer unterm Stenenzelt
Geht durch die Mitternacht.
Der Knab aus Träumen wirr erwacht,
Sein Antlitz grau im Mond verfällt.

Die Närrin weint mit offnem Haar
Am Fenster, das vergittert starrt.
Im Teich vorbei auf süßer Fahrt
Ziehn Liebende sehr wunderbar.

Der Mörder lächelt bleich im Wein,
Die Kranken Todesgrausen packt.
Die Nonne betet wund und nackt
Vor des Heilands Kreuzespein.

Die Mutter leis' im Schlafe singt.
Sehr friedlich schaut zur Nacht das Kind
Mit Augen, die ganz wahrhaft sind.
Im Hurenhaus Gelächter klingt.

Beim Talglicht drunt' im Kellerloch
Der Tote malt mit weißer Hand
Ein grinsend Schweigen an die Wand.
Der Schläfer flüstert immer noch.

Một bản tiếng Anh:

Romance in the Night

Georg Trakl (1887 - 1914)

The lonely one under the tent of stars
Goes through the still midnight.
The boy woozily awakes out of dreams,
His countenance decays grey in moon.

The foolish woman with unbound hair weeps
By the window's gazing trellis.
On the pond passing by in sweet journey
Lovers drift most wonderfully.

The murderer smiles palely in wine,
Death's horror grips the sick.
Excoriated and naked, the nun prays
Before the Savior's agony on the cross.

The mother sings quietly in sleep.
Peacefully the child looks into the night
With eyes that are completely truthful.
In the whorehouse laughter rings.

By candlelight down in the cellar hole
The dead one paints with white hand
A grinning silence on the wall.
The sleeper whispers still.

Chú thích của người dịch:

Georg Trakl (1887 - 1914): Người Áo, nhà thơ nổi tiếng của Chủ nghĩa Biểu hiện Đức, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Tượng trưng, được coi là nhà thơ viết bằng tiếng Đức xuất sắc nhất cùng với Rainer Maria Rilke ở đầu thế kỷ 20.

Tòan bộ thi phẩm của ông mang dấu ấn của hòai cảm, u sầu và hướng tìm Thiên Chúa. Có thể kể Cái chết, Suy đồi và sự Suy tàn của Tây Phương như những hàm ý chính ở thơ trữ tình sâu xa của Georg Trakl đầy những biểu tượng và ẩn dụ.
„ Hồ như không thể định vị tác phẩm thơ của ông một cách rõ rệt theo lịch sử văn học nội trong văn chương của thế kỷ 20“ (Wikipedia).

Đôi nét tiểu sử: Georg Trakl, con thứ năm trong gia đình tư sản khá giả có bảy con. Cha có cửa hàng khóa, mẹ khó tính với các con, nghiện ma túy. Georg Trakl trải qua thời niên thiếu tại Salzburg* 1897 – 1905 Học xong trung học, được coi là học trò kém (ở các môn tiếng Latinh, Hy Lạp và Tóan), không đỗ tú tài * 1908 Qua kỳ Thực tập, để nghiên cứu 4 học kỳ ngành dược* 1910 Học xong bằng y sĩ * Khi thế chiến I bùng nổ, ông tham gia mặt trận với chức vụ y sĩ quân đội. * Ngày thêm trầm cảm, trải qua trận đánh vùng Grodek ông bị suy sụp thần kinh. *1914 Chết (tự sát) trong một nhà thương quân đội ở Krakow sau khi dùng cocaine quá liều.

Tranh của Edvard Munch (1863-1944): Họa sĩ của phái Tượng trưng người Na Uy, người mở đường cho chủ nghĩa Biểu hiện và phái Hiện đại.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...