Thứ Tư, 29 tháng 4, 2020

Bertrand de Born

Heinrich Heine (1797-1856)   
Tranh©Gerard van Honthorst (1592-1656)

Niềm kiêu hãnh cao sang trong mọi nét
Vết suy tư trên vầng trán chàng ta.
Mỗi con tim đều bị chàng chiếm ngự,
Bertrand de Born (1), người thi sĩ rong ca (2).

Thanh âm ngọt của chàng thuần hóa
Sư tử cái Plantagenet vương triều, (3)
Hai con trai và cả cô gái yêu,
Chàng hát tất cả sa vào lưới.

Hay sao chàng quyến rũ người cha nữa!
Cơn lôi đình tan vào lệ dòng tuôn,
Khi vua nghe chàng nói lời êm ái
Thi sĩ rong ca, Bertrand de Born.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Bertrand de Born từ chùm Romanzen (Những bài ca tình sử) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Bertrand de Born

Heinrich Heine (1797-1856)

Ein edler Stolz in allen Zügen,
Auf seiner Stirn Gedankenspur,
Er konnte jedes Herz besiegen,
Bertrand de Born, der Troubadour.

Es kirrten seine süßen Töne
Die Löwin des Plantagenets;
Die Tochter auch, die beiden Söhne,
Er sang sie alle in sein Netz.

Wie er den Vater selbst betörte!
In Tränen schmolz des Königs Zorn,
Als er ihn lieblich reden hörte,
Den Troubadour, Bertrand de Born.

Chú thích của người dịch:

(1) Bertrand de Born: (1140-1215); Nam tước Pháp, thi sĩ rong ca nổi tiếng của thế kỷ 12. Huyền thoại về Bertrand de Born được nhiều nhà văn, nhà thơ (Dante Alighieri, Heinrich Heine, Erza Pound, Lion Feuchtwänger vv.) khai thác ở những motiv khác nhau.

(2) Troubadour/Trobador: Khái niệm chung chỉ những nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ cung đình thời Trung cổ. Truyền thống ca thơ có từ thời Homer, ở đây cho phép dịch là thi sĩ rong ca, kẻ ca thơ của mình.

(3) Nhà Anjou-Plantagenêt là dòng họ vương triều gốc Pháp có thế lực và ảnh hưởng lớn thời Trung cổ.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Gerard van Honthorst (Gerrit van Honthorst; 1592-1656): Họa sĩ Hà Lan

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2020

Những nàng tiên cá

Heinrich Heine (1797-1856)     


Tranh©William Adolphe Bouguereau 

Bên bờ cô liêu sóng triều ì oạp
Vầng trăng đã lên cao.
Chàng kỵ sĩ nghỉ trên cồn cát trắng
Đắm say trong giấc mộng muôn màu.

Những tiên cá đẹp xinh trong voan quấn
Từ dưới lòng biển sâu nhô lên,
Họ im ắng đến gần cu cậu,
Thực lòng tin chàng ấy ngủ yên.

Một cô tiên tò mò sờ soạng
Chiếc lông ngù trên mũ nồi gai.
Còn cô kia rờ rẫm bao đai
Và vào cả dây quai xích sắt.

Cô thứ ba cười và sáng mắt
Từ vỏ bao cô rút gươm ra,
Và cô chống chiếc gươm sáng quắc
Hồ hởi nhìn kỵ sĩ chàng ta.

Cô thứ tư nhảy tung tăng chân sáo
Và thì thầm tự đáy lòng thành:
„Em đây người yêu nhỏ của anh
Ôi, anh đóa bông người cao quí!“

Cô thứ năm hôn lên tay kỹ sĩ
Với khát khao và nỗi nhớ nhung.
Cô thứ sáu do dự và cuối cùng
Nàng hôn lên đôi môi, đôi má.

Kỵ sỹ thông minh, không còn nhớ
Rằng chàng ta phải mở mắt ra;
Trong ánh trăng bình thản chàng ta
Để các nàng tiên cá xinh hôn hít.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Những nàng tiên cá từ chùm Romanzen (Những bài ca tình sử) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Die Nixen

Heinrich Heine (1797-1856)

Am einsamen Strande plätschert die Flut,
Der Mond ist aufgegangen,
Auf weißer Düne der Ritter ruht,
Von bunten Träumen befangen.

Die schönen Nixen, im Schleiergewand,
Entsteigen der Meerestiefe.
Sie nahen sich leise dem jungen Fant,
Sie glaubten wahrhaftig, er schliefe.

Die eine betastet mit Neubegier
Die Federn auf seinem Barette.
Die andre nestelt am Bandelier
Und an der Waffenkette.

Die dritte lacht, und ihr Auge blitzt,
Sie zieht das Schwert aus der Scheide,
Und auf dem blanken Schwert gestützt
Beschaut sie den Ritter mit Freude.

Die vierte tänzelt wohl hin und her
Und flüstert aus tiefem Gemüte:
»O, daß ich doch dein Liebchen wär,
Du holde Menschenblüte!«

Die fünfte küßt des Ritters Händ,
Mit Sehnsucht und Verlangen;
Die sechste zögert und küßt am End
Die Lippen und die Wangen.

Der Ritter ist klug, es fällt ihm nicht ein,
Die Augen öffnen zu müssen;
Er läßt sich ruhig im Mondenschein
Von schönen Nixen küssen.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của William Adolphe Bouguereau (1825 - 1905): Họa sĩ Pháp, bậc thầy của phái Cổ điển Hàn lâm và Hiện thực Cổ điển.

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

Kỵ sĩ Olaf

Heinrich Heine (1797-1856)    

Tranh của © Rembrandt van Rijn (1606-1669)
1

Hai người đàn ông đứng trước thánh đường,
Cả hai mặc váy giáp trụ đỏ,
Người thứ nhất là đức vua
Còn kẻ kia là tên đao phủ.

Hướng về tên đao phủ nhà vua nói:
„Ta nhận ra ở khúc hát lâm ly
Của cha cố, rằng đã xong hôn lễ
Hãy sẵn giơ cây rìu tốt của mi!“

Chuông rền rã, đại phong cầm gào rú,
Từ nhà thờ dân chúng tràn ra;
Đám rước linh đình, kia đứng giữa
Đôi rể dâu trang điểm phấn hoa.

Như thây ma nhợt, buồn và ngượng
Nhìn kìa con gái vua đẹp tươi:
Olaf (1) anh chàng trông hỗn hào, lanh lợi
Và cái miệng hồng của gã mỉm cười.

Và cái miệng cười tươi đỏ thắm
Chàng ta nói với nhà vua buồn rầu:
„Chào sáng mai tốt lành, thưa nhạc phụ
Ngày hôm nay con sẽ rơi đầu.

Con phải chết hôm nay, ôi hãy để
Cho con còn sống tới giữa đêm,
Để cho con liên hoan đám cưới
Với tiệc tùng và điệu vũ đuốc thiêng.

Hãy để con sống, để con sống,
Cho tới khi chén cuối uống sạch bem
Lúc điệu vũ cuối cùng nhảy hết
Hãy cho con sống tới nửa đêm!“

Nhà vua nói với tên đao phủ:
„ Thằng rể ta sống chết từng giờ
Cuộc đời nó đến giữa đêm là hết
Lưỡi rìu mi bén, hãy sẵn giơ!“

2

Chàng Olaf ngồi dự tiệc đám cưới,
Chàng ta nốc cạn cốc cuối cùng.
Vợ của chàng đứng tựa vai chồng
Và thở dài -
Tên đao phủ đứng trước ngay song cửa.

Điệu vũ vòng bắt đầu, chàng Olaf giữ chặt
Lấy người vợ trẻ của mình, và hấp tấp quay cuồng,
Họ nhảy trong bập bùng ánh đuốc
Điệu vũ cuối cùng -
Tên đao phủ đứng trước ngay song cửa.

Vĩ cầm vang âm thanh vui nhộn nhã
Cây sáo thở dài e sợ và buồn.
Ai nhìn thấy cả hai khiêu vũ
Sẽ giật thót hoảng hồn -
Tên đao phủ đứng trước ngay song cửa.

Và như họ nhảy múa, trong phòng ồn ã,
Chàng Olaf thầm thì với vị hôn thê:
-„ Em không biết, anh yêu em dường bao
Nấm mồ cũng như thế lạnh sao-„
Tên đao phủ đứng trước ngay song cửa.

3

Chàng Olaf, giữa đêm giờ điểm
Cuộc đời mi thôi đã trôi xuôi!
Như đứa con một ông hoàng, mi đã
Thoải mái thay hưởng thụ cuộc đời.

Các thầy tu lầm rầm khấn người chết,
Hắn sẵn đứng đó với lưỡi rìu sáng quắc lên,
Ấy người đàn ông trong váy giáp đỏ
Trước khối người đen.

Chàng Olaf bước xuống dưới điện
Tức thì gươm, đèn sáng chói ngời.
Cái miệng thắm đỏ của kỵ sĩ mủm mỉm
Miệng cười tủm tỉm, chàng ta cất lời:

„Ta ban phước mặt trời, ta ban phước mặt nguyệt
Và vì sao đang lơ lửng trên trời
Ta cũng ban phước cho con chim nhỏ
Đang líu lo trong tầng khí trên khơi.

Ta ban phước cho biển, ta ban phước đất liền
Trên đồng nội những bông hoa,
Ta ban phước hoa tím, chúng sao hiền dịu
Như đôi mắt của người vợ ta.

Mắt hoa tím của vợ ta, ơi hỡi
Vì chúng mi ta mất đời xanh!
Ta cũng ban phước cây cơm cháy
Nơi em từng dâng hiến cho anh.“

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Kỵ sĩ Olaf từ chùm Romanzen (Những bài ca tình sử) của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Ritter Olaf

Heinrich Heine (1797-1856)

1

Vor dem Dome stehn zwei Männer,
Tragen beide rote Röcke,
Und der eine ist der König,
Und der Henker ist der andre.

Und zum Henker spricht der König:
»Am Gesang der Pfaffen merk ich,
Daß vollendet schon die Trauung -
Halt bereit dein gutes Richtbeil.«

Glockenklang und Orgelrauschen,
Und das Volk strömt aus der Kirche;
Bunter Festzug, in der Mitte
Die geschmückten Neuvermählten.

Leichenblaß und bang und traurig
Schaut die schöne Königstochter;
Keck und heiter schaut Herr Olaf;
Und sein roter Mund, der lächelt.

Und mit lächelnd rotem Munde
Spricht er zu dem finstern König:
»Guten Morgen, Schwiegervater,
Heut ist dir mein Haupt verfallen.

Sterben soll ich heut - O, laß mich
Nur bis Mitternacht noch leben,
Daß ich meine Hochzeit feire
Mit Bankett und Fackeltänzen.

Laß mich leben, laß mich leben,
Bis geleert der letzte Becher,
Bis der letzte Tanz getanzt ist -
Laß bis Mitternacht mich leben!«

Und zum Henker spricht der König:
»Unserm Eidam sei gefristet
Bis um Mitternacht sein Leben -
Halt bereit dein gutes Richtbeil.«

2

Herr Olaf sitzt beim Hochzeitschmaus,
Er trinkt den letzten Becher aus.
An seine Schulter lehnt
Sein Weib und stöhnt -
Der Henker steht vor der Türe.

Der Reigen beginnt, und Herr Olaf erfaßt
Sein junges Weib, und mit wilder Hast
Sie tanzen, bei Fackelglanz,
Den letzten Tanz -
Der Henker steht vor der Türe.

Die Geigen geben so lustigen Klang,
Die Flöten seufzen so traurig und bang!
Wer die beiden tanzen sieht,
Dem erbebt das Gemüt -
Der Henker steht vor der Türe.

Und wie sie tanzen, im dröhnenden Saal,
Herr Olaf flüstert zu seinem Gemahl:
»Du weißt nicht, wie lieb ich dich hab -
So kalt ist das Grab -«
Der Henker steht vor der Türe.

3

Herr Olaf, es ist Mitternacht,
Dein Leben ist verflossen!
Du hattest eines Fürstenkinds
In freier Lust genossen.

Die Mönche murmeln das Totengebet,
Der Mann im roten Rocke,
Er steht mit seinem blanken Beil
Schon vor dem schwarzen Blocke.

Herr Olaf steigt in den Hof hinab,
Da blinken viel Schwerter und Lichter.
Es lächelt des Ritters roter Mund,
Mit lächelndem Munde spricht er:

»Ich segne die Sonne, ich segne den Mond,
Und die Stern, die am Himmel schweifen.
Ich segne auch die Vögelein,
Die in den Lüften pfeifen.

Ich segne das Meer, ich segne das Land,
Und die Blumen auf der Aue.
Ich segne die Veilchen, sie sind so sanft
Wie die Augen meiner Fraue.

Ihr Veilchenaugen meiner Frau,
Durch euch verlier ich mein Leben!
Ich segne auch den Holunderbaum,
Wo du dich mir ergeben.«

Chú thích của người dịch:

(1) Bài ballad kể về chàng kỵ sĩ Olaf lén đoạt con gái nhà vua và vì thế phải chịu chết.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của © Rembrandt Harmenszoon van Rijn (1606-1669) Họa sĩ Hà Lan.

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2020

Trời đêm và Sao rơi

Rainer Maria Rilke (1875-1926)      

Tranh ©Vincent van Gogh (1853 – 1890)

Bầu trời, vĩ đại, đầy mực thước trang hoàng,
một kho trữ không gian, một kích thước siêu phàm của thế giới.
Và chúng ta bị đẩy tới nơi, quá xa cho sự biến đổi
và quá gần cho sự dời đi.

Kia một vì sao rụng! Khi ngước nhìn thảng thốt,
khẩn thiết quyện vào đó ước vọng của chúng ta:
Những gì đã bắt đầu, gì đã chảy trôi qua?
Gì nên tội, và những gì được tha thứ?

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Nachthimmel und Sternenfall

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Der Himmel, groß, voll herrlicher Verhaltung,
ein Vorrat Raum, ein Übermaß von Welt.
Und wir, zu ferne für die Angestaltung,
zu nahe für die Abkehr hingestellt.

Da fällt ein Stern! Und unser Wunsch an ihn,
bestürzten Aufblicks, dringend angeschlossen:
Was ist begonnen, und was ist verflossen?
Was ist verschuldet? Und was ist verziehn?

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi, Boris Pasternack và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh ©Vincent Willem van Gogh (1853 – 1890): Họa sĩ Hà Lan, tác phẩm góp phần đặt nền móng cho hội họa hiện đại.

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2020

Trong sớm mai

Heinrich Heine (1797-1856)    



Trên khu Fauxbourg Saint-Marçeau
Hôm nay sương mù phủ tinh mơ,
Sương thu muộn, nặng nề dày đặc
Có thể đem một đêm trắng ra so.

Thơ thẩn dạo qua màn đêm trắng
Tôi nhìn ra một bóng lướt qua
Một vóc dáng đàn bà
Có thể so sánh cùng ánh nguyệt.

Vâng, nàng ấy trông như ánh nguyệt
Lãng đãng bay, mềm mại và thanh tao
Một tấm thân thanh tú nhường bao
Nước Pháp đây chưa bao giờ tôi thấy.

Hay có thể là Luna (1) nàng ấy
Hôm nay nàng trễ cuộc hẹn bên
Một trai đẹp Endymion thanh tú
Của nàng, trong khu phố Latin (2)?

Trên đường về nhà tôi nghĩ lại,
Vì sao nàng trốn chạy, lúc nhìn tôi,
Nữ thần hẳn đã cho rằng, có lẽ
Tôi là Phoebus (3) lái mặt trời?

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Trong sớm mai từ chùm Romanzen của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.


In der Frühe  

Heinrich Heine (1797-1856)

Auf dem Fauxbourg Saint-Marçeau
Lag der Nebel heute Morgen,
Spätherbstnebel, dicht und schwer,
Einer weißen Nacht vergleichbar.

Wandelnd durch die weiße Nacht,
Schaut’ ich mir vorübergleiten
Eine weibliche Gestalt,
Die dem Mondenlicht vergleichbar.

Ja, sie war wie Mondenlicht
Leichthinschwebend, zart und zierlich;
Solchen schlanken Gliederbau
Sah ich hier in Frankreich niemals.

War es Luna selbst vielleicht,
Die sich heut bey einem schönen,
Zärtlichen Endymion
Des Quartièr Latin verspätet?

Auf dem Heimweg dacht ich nach:
Warum floh’ sie meinen Anblick?
Hielt die Göttin mich vielleicht
Für den Sonnenlenker Phöbus?

Chú thích của người dịch:

(1) Endymion trong thần thoại Hy Lạp là một chàng chăn cừu mang vẻ đẹp của một vị thần, đặc biệt lúc chàng ngủ còn đẹp gấp bội. Vẻ đẹp ấy khiến nữ thần mặt trăng Luna mê đắm và nàng đã xin thần Zeus ban cho Endymion giấc ngủ vĩnh hằng để chàng có thể bên nàng mãi mãi.

(2) Khu phố La Tinh hay Quận La Tinh (tiếng Pháp: Quartier Latin) là một khu phố thuộc Quận 5 thành phố Paris, được biết tới là khu phố của sinh viên và học giả, tập hợp nhiều cơ sở giảng dạy và nghiên cứu.

(3) Phoebus ("người tỏa sáng") là danh hiệu được dùng rất phổ biến trong cả thời Hy Lạp và La Mã khi muốn nói về Apollo như một vị thần của ánh sáng.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của © Jérôme-Martin Langlois (1779-1838): Họa sĩ Pháp.

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2020

Vào năm 1839

Heinrich Heine (1797-1856)     

Tranh của ©Auguste Renoir 

Ôi nước Đức tình yêu tôi nơi xa,
Cứ nghĩ đến, tôi gần như khóc lắm
Nước Pháp nhộn nhạo dường u ám
Nhân dân nhẹ dạ làm tôi bực mình.

Chỉ có lý trí khô và lạnh lùng
Ngự trị trên thành Paris hài hước.
Ôi những chuông điên, chuông của tín ước
Ngọt ngào sao ngân trên chốn quê nhà.

Những quí ông lịch sự! Ấy vậy mà
Lời chào ngoan, tôi chán chường trả lại.
Sự thô bạo xưa tôi từng nếm trải
Trên tổ quốc, là hạnh phúc của tôi.

Những mụ đàn bà cười mỉm, lắm lời
Xoen xoét như bánh cối xay liên tục;
Tôi thực ngợi khen phòng the nước Đức,
Nàng ngậm tăm lặng lẽ lên giường.

Và tất cả ở đây trong vòng khép quay cuồng
Với sự hung bạo, như giấc mơ điên dại
Mọi thứ quê tôi, trên đường ray ở lại
Như đóng đinh, xinh xắn, chẳng chuyển lay.

Tôi cảm như nghe văng vẳng xa đây
Êm ả và thân quen, người gác đêm thổi sáo
Tôi nghe khúc người tuần đêm hát dạo
Giữa những hồi vang tiếng hót dạ oanh.

Nhà thơ từng hạnh phúc chốn quê anh
Triền sồi mọc xứ Schilda cao quí.
Nơi đó tôi dệt vần thơ kiều mị
Từ hương hoa tím thơm và ánh trăng.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Vào năm 1839 từ chùm Romanzen của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Anno 1839

Heinrich Heine (1797-1856)

O, Deutschland, meine ferne Liebe,
Gedenk ich deiner, wein ich fast!
Das muntre Frankreich scheint mir trübe,
Das leichte Volk wird mir zur Last.

Nur der Verstand, so kalt und trocken,
Herrscht in dem witzigen Paris -
Oh, Narrheitsglöcklein, Glaubensglocken,
Wie klingelt ihr daheim so süß!

Höfliche Männer! Doch verdrossen
Geb ich den artgen Gruß zurück. -
Die Grobheit, die ich einst genossen
Im Vaterland, das war mein Glück!

Lächelnde Weiber! Plappern immer,
Wie Mühlenräder stets bewegt!
Da lob ich Deuschlands Frauenzimmer,
Das schweigend sich zu Bette legt.

Und alles dreht sich hier im Kreise,
Mit Ungestüm, wie 'n toller Traum!
Bei uns bleibt alles hübsch im Gleise,
Wie angenagelt, rührt sich kaum.

Mir ist, als hört ich fern erklingen
Nachtwächterhörner, sanft und traut;
Nachtwächterlieder hör ich singen,
Dazwischen Nachtigallenlaut.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“
„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Pierre-Auguste Renoir (1841-1919): Họa sĩ tiêu biểu của phái Ấn tượng Pháp.

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

Vào năm 1829

Heinrich Heine (1797-1856)    

Tranh Adolph von Menzel (1815-1905): Họa sĩ Đức

Rằng tôi dễ kiệt cùng chảy máu
Hãy cho tôi một cánh đồng quí, rộng dài!
Ôi, đừng để tôi ngạt thở nơi này
Trong thế giới hẹp của người tiểu kỷ!

Bọn họ ăn tốt, bọn họ uống no
Vui sướng vì gặp may trúng số;

Tính hào phóng của họ lớn tới độ
Như cái lỗ hộp quyên cho người nghèo.

Bọn họ ngậm xì gà trong mõm
Và hai tay xỏ trong túi quần;
Sức tiêu hóa cũng thực tốt vô ngần
Cho những ai có thể tiêu hóa họ!

Họ bán buôn những đồ đặc phẩm
Toàn thế giới, trong không khí vậy mà,
Dù nêm gia vị, người ta thường ngửi
Vị linh hồn của cá ướp thối tha.

Ồ giá như tôi thấy di sản lớn
Tội ác, đẫm máu, lớn khổng lồ
Duy chẳng thấy cái phẩm hạnh ớn no
Và đạo đức có khả năng chi trả!

Mây trên kia, đưa ta đi theo với
Tới một miền nào xa tắp, tùy mi
Tới miền đất Lapland hoặc châu Phi
Hay Pomerania, miễn là đi khỏi!

Ồ đưa ta theo, chẳng nghe lời gọi
Mây trên cao chúng thông thái vậy thay!
Chỉ du lãm nhất thời qua thành phố
Sợ hãi, rồi chúng tăng tốc vù bay.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Vào năm 1829 từ chùm Romanzen của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới (còn sửa)

Anno 1829

Heinrich Heine (1797-1856)

Daß ich bequem verbluten kann,
Gebt mir ein edles, weites Feld!
Oh, laßt mich nicht ersticken hier
In dieser engen Krämerwelt!

Sie essen gut, sie trinken gut,
Erfreun sich ihres Maulwurfglücks,
Und ihre Großmut ist so groß
Als wie das Loch der Armenbüchs.

Zigarren tragen sie im Maul
Und in der Hosentasch' die Händ;
Auch die Verdauungskraft ist gut -
Wer sie nur selbst verdauen könnt!

Sie handeln mit den Spezerein
Der ganzen Welt, doch in der Luft,
Trotz allen Würzen, riecht man stets
Den faulen Schellfischseelenduft.

O, daß ich große Laster säh,
Verbrechen, blutig, kolossal -
Nur diese satte Tugend nicht,
Und zahlungsfähige Moral!

Ihr Wolken droben, nehmt mich mit,
Gleichviel nach welchem fernen Ort!
Nach Lappland oder Afrika,
Und seis nach Pommern - fort! nur fort!

O, nehmt mich mit - sie hören nicht -
Die Wolken droben sind so klug!
Vorüberreisend dieser Stadt,
Ängstlich beschleungen sie den Flug.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Adolph von Menzel (1815-1905): Họa sĩ Đức theo phái Hiện thực.

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

Hung tinh

Heinrich Heine (1797-1856)          

Tranh© Caspar David Friedrich (1774-1840)

Ngôi sao chiếu sáng sao linh lợi
Từ trời kia rơi xuống dưới trần.
Tình yêu là gì? Em hỏi anh, bé ạ
- Một vì sao trong một đống phân.

Như một con chó ghẻ chết đứ
Vậy nằm trơ quấn rác nhớp nhơ.
Gà trống gáy lên, lợn nái khụt khịt
Cơn động tình lăn lộn chốn phân tro.

Ôi tôi đã rụng xuống vườn thế đó
Nơi những bông hoa đã ngóng chờ tôi,
Nơi tôi đã thường xuyên nguyện ước
Nấm mộ thơm, sự chết tinh khôi!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Hung tinh từ chùm Romanzen của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Unstern

Heinrich Heine (1797-1856)

Der Stern erstrahlte so munter,
Da fiel er vom Himmel herunter.
Du fragst mich, Kind, was Liebe ist?
Ein Stern in einem Haufen Mist.

Wie 'n räudiger Hund, der verrecket,
So liegt er mit Unrat bedecket.
Es kräht der Hahn, die Sau, sie grunzt,
Im Kote wälzt sich ihre Brunst.

Oh, fiel ich doch in den Garten,
Wo die Blumen meiner harrten,
Wo ich mir oft gewünschet hab
Ein reinliches Sterben, ein duftiges Grab!

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Caspar David Friedrich (1774-1840): Họa sĩ Đức thời Tiền Lãng mạn

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...