Thứ Tư, 30 tháng 5, 2018

Anh muốn chỉ em xem mùa xuân

Rainer Maria Rilke (1875-1926)  

Tranh ©® Emil Nolde (1867-1956): Họa sĩ Đức

Anh muốn chỉ cho em
Mùa xuân trăm kỳ vĩ
Xuân không vào thành thị
Mùa xuân thuộc về rừng.

Chỉ ai sóng bước cùng
Từ xa nơi ngõ lạnh
Tay trong tay sát cánh
Được thấy xuân một lần.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Will dir den Frühling zeigen

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Will dir den Frühling zeigen,
der hundert Wunder hat.
Der Frühling ist waldeigen
und kommt nicht in die Stadt.

Nur die weit aus den kalten
Gassen zu zweien gehn
und sich bei den Händen halten -
dürfen ihn einmal sehn.

1897

Chú thích của người dịch:


Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Emil Nolde (7. 8. 1867 – 13. 4. 1956): Một trong những đại diện phái Biểu hiện Đức, và được coi là một trong những họa sĩ sơn dầu và màu nước xuất sắc của thế kỷ 20.

Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2018

Mọi cái chết

Hermann Hesse (1877-1962)   

Tranh ©® Nguyễn Trọng Khôi (sinh năm 1947)

Tôi từng chết cả ngàn cái chết
Muốn tái hồi chết mọi cuộc đủ đầy
Chết cái chết xơ thớ gỗ trong cây
Chết cái chết đá trong ngọn núi
Cái chết trần tục trong cát sỏi
Cái chết lá trong cỏ mùa hạ rì rào
Cái chết đẫm máu tội nghiệp của con người.

Tôi muốn mình tái thế là hoa
Làm cỏ, cây sinh ra đời lần nữa
Là cá và hươu, là chim là bướm
và từ mỗi hình hài
Nỗi khao khát sẽ xốc tôi trên thang bậc
tới khổ đau cùng tận
cập đau thương luân vận của con người.

Ôi cây cung căng ra run rẩy
Nếu nắm tay hối hả của niềm khát khao
đòi hỏi hai thái cực cuộc sống
hướng về nhau cong uốn!
Nữa thường xuyên và mãi liên hồi
Mi sẽ săn đuổi ta từ cái chết đến sinh sôi
Trên cung đường tạo tác đầy đau đớn
Trên cung đường tạo tác chói ngời.

©®Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức (còn sửa)

ALLE TODE

Hermann Hesse (1877-1962)

Alle Tode bin ich schon gestorben,
Alle Tode will ich wieder sterben,
Sterben den hölzernen Tod im Baum,
Sterben den steineren Tod im Berg,
Irdenen Tod im Sand,
Blätternen Tod im knisternden Sommergras
Und den armen, blutigen Menschentod.

Blume will ich wieder geboren werden,
Baum und Gras will ich wieder geboren werden,
Fisch und Hirsch, Vogel und Schmetterling.
Und aus jeder Gestalt
Wird mich Sehnsucht reißen die Stufen
Zu den letzten Leiden,
Zu den Leiden des Menschen hinan.

O zitternd gespannter Bogen,
Wenn der Sehnsucht rasende Faust
Beide Pole des Lebens
Zueinander zu biegen verlangt!
Oft noch und oftmals wieder
Wirst du mich jagen von Tod zu Geburt
Der Gestaltungen schmerzvolle Bahn,
Der Gestaltungen herrliche Bahn.

Bản tiếng Anh:

ALL DEATHS

Hermann Hesse (1877-1962)

I have already died all deaths,
And I am going to die all deaths again,
Die the death of the wood in the tree,
Die the stone death in the mountain,
Earth death in the sand,
Leaf death in the crackling summer grass
And the poor bloody human death.

I will be born again, flowers,
Tree and grass, I will be born again,
Fish and deer, bird and butterfly.
And out of every form,
Longing will drag me up the stairways
To the last suffering,
Up to the suffering of men.

O quivering tensed bow,
When the raging fist of longing
Commands both poles of life
To bend to each other!
Yet often, and many times over,
You will hunt me down from death to birth
On the painful track of the creations,
The glorious track of the creations.

Translation by James Wright

Chú thích của người dịch:

Hermann Hesse: (Hermann Karl Hesse, cũng dưới bút danh Emil Sinclair, 1877 - † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói đồng hoang) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.

Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.

Tác phẩm:
Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ

Văn xuôi:
- Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết, Tuổi trẻ và cô đơn, Vũ Đình Lưu dịch.
- Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết.
- Tuổi trẻ băn khoăn (Demian, 1917), truyện dài, Hoài Khanh dịch.
- Siddhartha (1920), tiểu thuyết được Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch dưới tiêu đề Câu chuyện dòng sông.
- Sói đồng hoang (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.
- Đôi bạn chân tình (Narziss und Goldmund), Vũ Đình Lưu dịch.
- Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết.
- Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.

Tranh của ©® Nguyễn Trọng Khôi (sinh năm 1947): Vietnamese Painter

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2018

Hồn chúng sinh

Georg Trakl (1887 - 1914)

(Gửi Karl Hauer)  


Tranh © Edvard Munch (1863-1944): Họa sĩ Na Uy


Những ông mãnh buồn, những cô cậu bé nhỏ
Hôm nay người rắc hoa xanh và đỏ
Lên mộ họ vô danh, rụt rè sáng lên
Họ làm, như con rối đáng thương trước thần chết.

Ôi như ở đây họ hiện ra đầy nhẫn nhục hoảng hốt
Như những vệt bóng đứng sau những lùm đen
Trong gió thu tiếng khóc của kẻ chưa ra đời than van
Người ta cũng thấy những chùm sáng đi vào lầm lạc.

Tiếng thở dài của kẻ đang yêu trong lá cành xào xạc
Và nơi đó mục rữa người mẹ và đứa con
Và điệu vũ xoay vòng của người sống hiện lên hư ảo
Và lạ lùng bay tan tác trong gió đêm.

Cuộc đời họ sao loạn lạc, đầy tai ương ảm đạm
Xin Thánh Nữ đoái thương địa ngục và khổ đau
Và tiếng họ than van vì chết đi tuyệt vọng.
Những kẻ cô quạnh lặng lẽ tản đi trong vòm trời sao.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Allerseelen
(An Karl Hauer)

Georg Trakl (1887 - 1914)

Die Männlein, Weiblein, traurige Gesellen,
Sie streuen heute Blumen blau und rot
Auf ihre Grüfte, die sich zag erhellen.
Sie tun wie arme Puppen vor dem Tod.

O! wie sie hier voll Angst und Demut scheinen,
Wie Schatten hinter schwarzen Büschen stehn.
Im Herbstwind klagt der Ungebornen Weinen,
Auch sieht man Lichter in die Irre gehn.

Das Seufzen Liebender haucht in Gezweigen
Und dort verwest die Mutter mit dem Kind.
Unwirklich scheinet der Lebendigen Reigen
Und wunderlich zerstreut im Abendwind.

Ihr Leben ist so wirr, voll trüber Plagen.
Erbarm’ dich Gott der Frauen Höll’ und Qual,
Und dieser hoffnungslosen Todesklagen.
Einsame wandeln still im Sternensaal.

Một bản tiếng Anh:

All Souls' Day
(To Karl Hauer)

Georg Trakl (1887 - 1914)

The little men, little women, sad companions,
Today they scatter flowers blue and red
On their crypts, which light up shyly.
They act like poor dolls before death.

O! how they appear full of fear and humility,
Like shadows standing behind black bushes.
In the autumn wind the weeping of the unborn complains,
Also one sees lights lose their way.

The sighs of lovers breathe in the branches,
And there the mother with the child rots.
The round dance of the living seems unreal
And fantastically scattered in the evening wind.

Their life is so confused, full of dim plagues.
God take pity on the women's hell and agony
And these hopeless lamentations of death.
The lonely ones walk silently in the hall of stars.

Chú thích của người dịch:


Georg Trakl (1887 - 1914): Người Áo, nhà thơ nổi tiếng của Chủ nghĩa Biểu hiện Đức, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Tượng trưng, được coi là nhà thơ viết bằng tiếng Đức xuất sắc nhất cùng với Rainer Maria Rilke ở đầu thế kỷ 20.
Tòan bộ thi phẩm của ông mang dấu ấn của hòai cảm, u sầu và hướng tìm Thiên Chúa. Có thể kể Cái chết, Suy đồi và sự Suy tàn của Tây Phương như những hàm ý chính ở thơ trữ tình sâu xa của Georg Trakl đầy những biểu tượng và ẩn dụ.
„ Hồ như không thể định vị tác phẩm thơ của ông một cách rõ rệt theo lịch sử văn học nội trong văn chương của thế kỷ 20“ (Wikipedia).
Đôi nét tiểu sử: Georg Trakl, con thứ năm trong gia đình tư sản khá giả có bảy con. Cha có cửa hàng khóa, mẹ khó tính với các con, nghiện ma túy. Georg Trakl trải qua thời niên thiếu tại Salzburg* 1897 – 1905 Học xong trung học, được coi là học trò kém (ở các môn tiếng Latinh, Hy Lạp và Tóan), không đỗ tú tài * 1908 Qua kỳ Thực tập, để nghiên cứu 4 học kỳ ngành dược* 1910 Học xong bằng y sĩ * Khi thế chiến I bùng nổ, ông tham gia mặt trận với chức vụ y sĩ quân đội. * Ngày thêm trầm cảm, trải qua trận đánh vùng Grodek ông bị suy sụp thần kinh. *1914 Chết (tự sát) trong một nhà thương quân đội ở Krakow sau khi dùng cocain quá liều.


Tranh của Edvard Munch (1863-1944): Họa sĩ Na Uy, tác phẩm mang nhiều dấu ấn của phái Tượng trưng, ảnh hưởng lớn tới hội họa châu Âu hiện đại.

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2018

Dạ tiệc

Hermann Hesse (1877-1962)  

Tranh © Adolph von Menzel: Họa sĩ Đức

Họ đã mời tôi đến dự
Tôi không biết nữa vì sao
Nhiều vị bắp chân thon thả
Trong sảnh phòng đứng xen nhau.

Là những quí ông tên tuổi
Và tiếng tăm nổi như điên
Kẻ nọ sáng tác kịch bản
Người kia tiểu thuyết trường thiên.

Họ biết trơn tru ứng xử
Ra điều la lối thật to.
Thế nên tôi ngượng ngùng nói
Tôi cũng là một nhà thơ.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Soirée

Hermann Hesse (1877-1962)

Man hatte mich eingeladen,
Ich wußte nicht warum;
Viel Herren mit schmalen Waden
Standen im Saal herum.

Es waren Herren von Namen
Und von gewaltigem Ruf,
Von denen der eine Dramen,
Der andre Romane schuf.

Sie wußten sich flott zu betragen
Und machten ein groß Geschrei.
Da schämte ich mich zu sagen,
Daß ich auch ein Dichter sei.

Chú thích của người dịch:

Hermann Hesse: (Hermann Karl Hesse, cũng dưới bút danh Emil Sinclair, 1877 - † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói đồng hoang) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.

Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.


Tác phẩm:
Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ
Văn xuôi:
- Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết, Tuổi trẻ và cô đơn, Vũ Đình Lưu dịch.
- Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết.
- Tuổi trẻ băn khoăn (Demian, 1917), truyện dài, Hoài Khanh dịch.
- Siddhartha (1920), tiểu thuyết được Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch dưới tiêu đề Câu chuyện dòng sông.
- Sói đồng hoang (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.
- Đôi bạn chân tình (Narziss und Goldmund), Vũ Đình Lưu dịch.
- Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết.
- Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.

Tranh của Adolph von Menzel (1815-1905): Họa sĩ hiện thực Đức, nổi tiếng ở thế kỷ 19.

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

Ly biệt

Rainer Maria Rilke (1875-1926)   

Tranh © Edvard Munch (1863-1944): Họa sĩ Na Uy


Tôi từng cảm, thế nào là ly biệt.
Là sao, tôi còn biết: có chút gì tàn nhẫn, tối đen
không sao vượt, một lần nữa chỉ cho xem
kết nối đẹp và chìa ra và giật đứt.

Mới bất lực sao, khi tôi phải nhìn
thứ vừa gọi tôi, cho tôi đi và ở lại,
Cứ như thể tất cả đàn bà, và tuy vậy
bé nhỏ, trắng toát và không là thứ khác hơn:

Một vẫy chào, với tôi chẳng còn mối liên quan
Một cái vẫy tiếp êm ru- hồ như không cắt nghĩa:
Có thể một cây mận chăng, từ đó
một con chim gáy vừa hối hả bay đi.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Abschied

Rainer Maria Rilke (1875-1926):


Wie hab ich das gefühlt was Abschied heißt.
Wie weiß ichs noch: ein dunkles unverwundnes
grausames Etwas, das ein Schönverbundnes
noch einmal zeigt und hinhält und zerreißt.

Wie war ich ohne Wehr, dem zuzuschauen,
das, da es mich, mich rufend, gehen ließ,
zurückblieb, so als wärens alle Frauen
und dennoch klein und weiß und nichts als dies:

Ein Winken, schon nicht mehr auf mich bezogen,
ein leise Weiterwinkendes -, schon kaum
erklärbar mehr: vielleicht ein Pflaumenbaum,
von dem ein Kuckuck hastig abgeflogen.

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).


Tranh của Edvard Munch (1863-1944): Họa sĩ Na Uy, tác phẩm mang nhiều dấu ấn của phái Tượng trưng, ảnh hưởng lớn tới hội họa châu Âu hiện đại.

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2018

Lạc thú tinh khiết

Hermann Hesse (1877-1962)   

Tranh của © Emil Nolde (1867-1956): Họa sĩ Đức

Tôi biết trên đời còn lạc thú nào tinh khiết
Hơn được nghỉ yên bên ngực địa cầu
Trên tường thành nóng ở những đường bụi bặm
Nếu trên đầu trời trải biếc xanh mầu
Và hướng tới hạnh phúc chưa từng biết,
Nguyện ước tôi mỉm cười nhẹ nhàng da diết.

Tôi chỉ biết một điều hớp hồn mình tức khắc:
- Đung đưa trên một ván lướt mỏng manh
Nếu trong vầng trời trưa chiếu sáng xung quanh
Những miền xa của đại dương xanh nằm yên ắng
Và xa lắc một con thuyền rung lên buồm trắng
Mang nỗi nhớ nhung mệt mỏi của tôi trở về nhà.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Reine Lust

Hermann Hesse (1877-1962)


Ich weiß auf Erden keine reinere Lust
Als still zu ruhen an der Erde Brust,
Auf heißer Mauer an bestaubten Wegen,
Wenn über mir das tiefe Blau sich dehnt
Und einem ungekannten Glück entgegen
Mein Wunsch sich leise und mit Lächeln sehnt.

Ich weiß nur Eine, die mich gleich erfaßt:
Auf einem schmalen Ruderbrett mich wiegen,
Wenn ringsum leuchtend in der Mittagsglast
Die Weiten eines blauen Meeres liegen
Und fern ein Schiff das weiße Segel regt,
Das meine müde Sehnsucht heimwärts trägt.

Chú thích của người dịch:


Hermann Hesse: (Hermann Karl Hesse, cũng dưới bút danh Emil Sinclair, 1877 - † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói đồng hoang) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.

Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.

Tác phẩm:
Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ

Văn xuôi:
- Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết, Tuổi trẻ và cô đơn, Vũ Đình Lưu dịch
- Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết
- Tuổi trẻ băn khoăn (Demian, 1917), truyện dài, Hoài Khanh dịch.
- Siddhartha (1920), tiểu thuyết được Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch dưới tiêu đề Câu chuyện dòng sông.
- Sói đồng hoang (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.
- Đôi bạn chân tình (Narziss und Goldmund), Vũ Đình Lưu dịch.
- Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết.
- Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.

Tranh của Emil Nolde (7. 8. 1867 – 13. 4. 1956): Một trong những đại diện phái Biểu hiện Đức, và được coi là một trong những họa sĩ sơn dầu và màu nước xuất sắc của thế kỷ 20.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018

Bài ca anh bị đầu độc

Heinrich Heine (1797-1856)  

Tranh của © Léon-François Comerre (1850-1916)


Bài ca anh bị đầu độc
Sao nào có thể khác không?
Vâng em đã tưới độc dược
Vào cuộc đời anh nở bông.

Bài ca anh bị đầu độc
Sao nào có thể khác không?
Anh mang trong tim nhiều rắn
Và em yêu của riêng lòng.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Vergiftet sind meine Lieder

Heinrich Heine (1797-1856)

Vergiftet sind meine Lieder; -
Wie könnte es anders sein?
Du hast mir ja Gift gegossen
Ins blühende Leben hinein.

Vergiftet sind meine Lieder; -
Wie könnte es anders sein?
Ich trage im Herzen viel Schlangen,
Und dich, Geliebte mein.

Một bản tiếng Anh:

Poisoned are my songs

Heinrich Heine (1797-1856)

Poisoned are my songs -
how could it be otherwise?
You have poured poison
into my blossoming life.

Poisoned are my songs -
how could it be otherwise?
I bear in my heart many snakes,
and you, my beloved!

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

Tranh của Léon-François Comerre (1850-1916): Người Pháp, họa sĩ kinh viện phái Tượng trưng.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2018

Những tờ lịch mở

Phạm Kỳ Đăng   

Tranh ©® Nguyễn Trọng Khôi: Họa sĩ VN


Phục sinh nắng mới ước ao
sáng ánh mắt thèm thuồng bé ốm
nhìn sáo đốm hiên nhà múa lượn.

+++

Những chùm sáng dưới vòm tù đọng
lăn tăn xao mặt nước
xoay chuông gió
đang chuyển vần mở ra các cánh cửa
của hồi niệm gợn lan xa,
Con kéo vó thung thăng múa sóng.

+++

Hoa rớt xuống trong thung bay tít tắp
Loài chi, ta nào nhớ,
Trên bồng bềnh những tan đám, cúi đầu
nhẫn nhục, lặng thinh
bắc về cõi
hành hương trắng xóa.

+++

Người đàn bà chớp mắt
thấm muội đen
và trân trân nhìn
dòng ly tán
rùng rùng
bánh xe day và xích nghiến.
Rung lên chuỗi kỷ vật
sum họp hẹn ngày
không bao giờ đến.

+++

Hương nếp cái vàng hoa bay
cội nhớ
trên dòng hồi ức của người khốn khổ
một bầy tròng xiết cổ
nổi trôi.

+++

Em trần thiết nhớ cõi đời
cúi xuống
chắp lòng tay khum
một đóa sen
Khóm tượng hắt đen
một hàng mật niệm cháy vết bánh luân xa
loạng choạng xô một đợt cuối bóng tà
suy tàn và
ly loạn.
 
©® P.K.Đ 2018
Tranh của ©® Nguyễn Trọng Khôi (sinh năm 1947): Vietnamese Painter

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...