Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2020

Phong cảnh

Georg Trakl (1887 - 1914)   
 
Tranh của © Franz Marc (1880-1916)

Đêm tháng Chín; những tiếng hú tối tăm của mục đồng
vẳng qua xóm chiều chạng vạng; lửa bắn tóe tia trong lò rèn.
Một con ngựa đen tung vó lên cường tráng; những lọn tóc dạ lan của cô hầu
vờn bắt theo sự mê cuồng của lỗ mũi ngựa đỏ tím.
Bên bìa rừng tiếng con hoẵng kêu rền rĩ vào im lặng,
và không một lời, những bông hoa vàng của mùa thu
nghiêng xuống gương mặt ao xanh dương.
Trong lửa đỏ một cái cây cháy lụi; với những bộ mặt đen sẫm,
những con dơi động vụt bay lên.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Landschaft

Georg Trakl (1887 - 1914)

Septemberabend; traurig tönen die dunklen Rufe der Hirten
Durch das dämmernde Dorf; Feuer sprüht in der Schmiede.
Gewaltig bäumt sich ein schwarzes Pferd; die
hyazinthenen Locken der Magd
Haschen nach der Inbrunst seiner purpurnen Nüstern.
Leise erstarrt am Saum des Waldes der Schrei der Hirschkuh
Und die gelben Blumen des Herbstes
Neigen sich sprachlos über das blaue Antlitz des Teichs.
In roter Flamme verbrannte ein Baum; aufflattern mit
dunklen Gesichtern die Fledermäuse.

Chú thích của người dịch:

Georg Trakl (1887 - 1914): Người Áo, nhà thơ nổi tiếng của Chủ nghĩa Biểu hiện Đức, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Tượng trưng, được coi là nhà thơ viết bằng tiếng Đức xuất sắc nhất cùng với Rainer Maria Rilke ở đầu thế kỷ 20.

Tòan bộ thi phẩm của ông mang dấu ấn của hòai cảm, u sầu và hướng tìm Thiên Chúa. Có thể kể Cái chết, Suy đồi và sự Suy tàn của Tây Phương như những hàm ý chính ở thơ trữ tình sâu xa của Georg Trakl đầy những biểu tượng và ẩn dụ.
„ Hồ như không thể định vị tác phẩm thơ của ông một cách rõ rệt theo lịch sử văn học nội trong văn chương của thế kỷ 20“ (Wikipedia)

Đôi nét tiểu sử: Georg Trakl, con thứ năm trong gia đình tư sản khá giả có bảy con. Cha có cửa hàng khóa, mẹ khó tính với các con, nghiện ma túy. Georg Trakl trải qua thời niên thiếu tại Salzburg* 1897 – 1905 Học xong trung học, được coi là học trò kém (ở các môn tiếng Latinh, Hy Lạp và Tóan), không đỗ tú tài * 1908 Qua kỳ Thực tập, để nghiên cứu 4 học kỳ ngành dược* 1910 Học xong bằng y sĩ * Khi thế chiến I bùng nổ, ông tham gia mặt trận với chức vụ y sĩ quân đội. * Ngày thêm trầm cảm, trải qua trận đánh vùng Grodek ông bị suy sụp thần kinh. *1914 Chết (tự sát) trong một nhà thương quân đội ở Krakow sau khi dùng cocain quá liều.

Tranh của Franz Marc (1880-1916): Họa sĩ quan trọng của chủ nghĩa Biểu hiện Đức.

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2020

Trích từ một bức thư

Heinrich Heine (1797-1856)    

Tranh © William Turner (1775-1851): Họa sĩ Anh

(Mặt trời nói:)

Ánh mắt ta làm gì mi kia chứ?
Đó là quyền chính đáng của mặt trời
Rọi soi lên ông chủ như kẻ bầy tôi,
Ta chiếu sáng, bởi ta không thể khác-

Ánh mắt ta làm gì mi kia chứ?
Cân nhắc đi, đâu nghĩa vụ của mi
Hãy lấy một người đàn bà, sinh một hài nhi
Hãy là một đàn ông chỉn chu người Đức.

Ta soi chiếu, bởi ta không thể khác
Ta dạo trời lên xuống đấy mọi khi
Vì buồn tẻ ta ngó nhìn xuống dưới
Ánh mắt ta chạm gì đến nhà mi?

(Thi sĩ nói: )

Vâng đó chính là của ta đây phẩm hạnh,
Thế nên ta chịu đựng ánh mắt ngươi
Ánh sáng của hồn thanh xuân muôn đời
Vẻ đẹp chói chang, hạnh phúc bùng ngọn lửa.

Nhưng giờ đây ta cảm sự uể oải
Của nhãn lực, đang hạ xuống miền,
Như cánh đồng đen, như bóng đổ đêm đêm
Lên mí mắt của ta tội nghiệp...

(Dàn đồng ca của khỉ:)

Khỉ chúng ta, khỉ chúng ta!
Giương mắt lên há hốc mồm ra
Trước mặt trời,
Vì thế đó mặt trời không sao kháng cự.

(Dàn đồng ca của ếch):

Trong làn nước
còn ướt
hơn trên đất,
Lũ chúng ta không hề chật vật
tung tăng giỡn ánh mặt trời.

(Dàn đồng ca của chuột trũi:)

Mà thế con người bàn tán điều vô nghĩa
Về ánh nhìn và tia nắng mặt trời!
Chúng ta chỉ cảm nhận sự ngứa ngáy nóng người
Và chuyên chú từ nay cào gãi.

(Một con đom đóm nói:)

Mà sao mặt trời làm ra vẻ quan trọng
Bằng sắc rạng rỡ ngắn ngủi ban ngày
Ta không tỏ ra thiếu khiêm cung làm vậy
Thế mà ta cũng là một nguồn sáng lớn thay
Trong đêm tối, ở trong đêm tối!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Từ một bức thư ở chùm Romanzen của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Aus einem Briefe

Heinrich Heine (1797-1856)

(Die Sonne spricht:)

Was gehn dich meine Blicke an?
Das ist der Sonne gutes Recht,
Sie strahlt auf den Herrn wie auf den Knecht;
Ich strahle, weil ich nicht anders kann.

Was gehn dich meine Blicke an?
Bedenke, was deine Pflichten sind,
Nimm dir ein Weib und mach ein Kind,
Und sei ein deutscher Biedermann.

Ich strahle, weil ich nicht anders kann,
Ich wandle am Himmel wohl auf, wohl ab,
Aus Langeweile guck ich hinab -
Was gehn dich meine Blicke an?

(Der Dichter spricht:)

Das ist ja eben meine Tugend,
Daß ich ertrage deinen Blick,
Das Licht der ewgen Seelenjugend,
Blendende Schönheit, Flammenglück!

Jetzt aber fühl ich ein Ermatten
Der Sehkraft, und es sinken nieder,
Wie schwarze Flöre, nächtge Schatten
Auf meine armen Augenlider ...

(Chor der Affen:)

Wir Affen, wir Affen,
Wir glotzen und gaffen
Die Sonne an,
Weil sie es doch nicht wehren kann.

(Chor der Frösche:)

Im Wasser, im Wasser,
Da ist es noch nasser
Als auf der Erde,
Und ohne Beschwerde
Erquicken
Wir uns an den Sonnenblicken.

(Chor der Maulwürfe:)

Was doch die Leute Unsinn schwatzen
Von Strahlen und von Sonnenblicken!
Wir fühlen nur ein warmes Jücken,
Und pflegen uns alsdann zu kratzen.

(Ein Glühwurm spricht:)

Wie sich die Sonne wichtig macht,
Mit ihrer kurzen Tagespracht!
So unbescheiden zeig ich mich nicht,
Und bin doch auch ein großes Licht,
In der Nacht, in der Nacht!

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của William Turner (1775-1851): Họa sĩ Anh thời kỳ Lãng mạn.

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2020

Gọi hồn

Heinrich Heine (1797-1856)    

Tranh©Peter von Rubens (1577- 1660)

Tu sĩ trẻ Phanxicô (1) đơn độc
Ngồi trong căn buồng của nhà tu,
Chàng đọc cuốn thần chú cổ xưa
Mang tên Sự cưỡng bách của địa ngục.

Và khi giữa đêm giờ điểm khắc,
Chàng không sao chịu được lâu thêm,
Mấp mày môi nhợt nhạt chàng gọi
Những quỉ thần ở cõi âm lên.

Hởi các thánh thần! Lấy ra khỏi mộ
Xác người đàn bà đẹp nhất cho ta
Cho đêm nay hãy làm họ tỉnh dậy
Ta muốn lòng ở đó thăng hoa.

Chàng niệm một câu gì rối rắm
Tức thì ước nguyện được đáp đền
Người đẹp tội nghiệp đã chết đến liền
Nàng bận đồ vải mền trắng toát.

Ánh mắt nàng buồn. Từ lồng ngực lạnh
Tiếng thở dài đau đớn dâng lên
Người chết đến ngồi bên tu sĩ
Họ nhìn nhau chăm chú, và lặng im.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Gọi hồn từ chùm Romanzen của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Die Beschwörung

Heinrich Heine (1797-1856)

Der junge Franziskaner sitzt
Einsam in der Klosterzelle,
Er liest im alten Zauberbuch,
Genannt der Zwang der Hölle.

Und als die Mitternachtstunde schlug,
Da konnt er nicht länger sich halten,
Mit bleichen Lippen ruft er an
Die Unterweltsgewalten.

Ihr Geister! holt mir aus dem Grab
Die Leiche der schönsten Frauen,
Belebt sie mir für diese Nacht,
Ich will mich dran erbauen.

Er spricht das grause Beschwörungswort,
Da wird sein Wunsch erfüllet,
Die arme verstorbene Schönheit kommt,
In weißen Laken gehüllet.

Ihr Blick ist traurig. Aus kalter Brust
Die schmerzlichen Seufzer steigen.
Die Todte setzt sich zu dem Mönch,
Sie schauen sich an und schweigen.

Chú thích của người dịch;

(1) Tu sĩ Phan Sinh (Franziskaner) là những tu sĩ Công giáo Rôma thuộc các dòng tu do Thánh Phanxicô thành Assisi sáng lập. Dòng tu nổi bật nhất trong nhóm Phan Sinh là Dòng Anh Em Hèn Mọn, thường được gọi đơn giản là "tu sĩ Phan Sinh" hoặc "tu sĩ Phanxicô". (wikipedia)

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh Thánh Phanxicô thành Assisi của Peter von Rubens (1577- 1660): Họa sĩ người Flemish thời Barock, nhà ngoại giao.

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2020

Childe Harold

Heinrich Heine (1797-1856)       

Tranh © William Turner (1775-1851): Họa sĩ Anh


Một con thuyền đen, khỏe khoắn
Về kia buồn bã xuôi dòng.
Người canh thi hài, che mặt
Và ngổi im lặng ở trong.

Nhà thơ chết, nằm lặng lẽ
Lộ ra gương mặt trần phơi:
Đôi mắt màu xanh còn ngước
Nhìn lên ánh sáng bầu trời.

Từ biển sâu vang như thể một
Vị hôn thê - tiên cá ốm gọi lên
Và sóng dâng đập vỡ tan thuyền
Dội như tiếng kêu than nức nở.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Childe Harold từ chùm Romanzen của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Childe Harold (1)

Eine starke, schwarze Barke
Segelt trauervoll dahin.
Die vermummten und verstummten
Leichenhüter sitzen drin.

Toter Dichter, stille liegt er,
Mit entblößtem Angesicht;
Seine blauen Augen schauen
Immer noch zum Himmelslicht.

Aus der Tiefe klingts, als riefe
Eine kranke Nixenbraut,
Und die Wellen, sie zerschellen
An dem Kahn, wie Klagelaut.

Chú thích của người dịch:

(1) George Gordon Noel Byron, Lord Byron (1788-1924): Thi hào Anh, tác giả của tập anh hùng ca Cuộc hành hương của Childe Harold, nhân vật mang nhiều nét tự thuật, như hóa thân của cuộc đời ông. Lord Byron chết khi tham gia cuộc chiến giành độc lập và tự do của Hy Lạp. Thi hài ông được quàn trên con thuyền chở về nước Anh. Heinrich Heine viết bài thơ Childe Harold tưởng nhớ Lord Byron - người thi sĩ đại diện trào Lãng mạn.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của William Turner (1775-1851): Họa sĩ Anh.

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2020

Lễ hội mùa xuân

Heinrich Heine (1797-1856)    

Tranh của © Paul Gauguin (1848-1903): Họa sĩ Pháp

Đó là hứng thú buồn của mùa xuân tới
Đám người hoang dã, những cô gái măng tơ
Ào tới đó, tóc bay gió phất phơ
Ngực thả trần, tiếng than van rền rĩ: -
Adonis! Adonis!

Đêm buông xuống! Trong hồng ánh đuốc
Họ tới lui tìm kiếm trong rừng già,
Vọng trở lại, rối lên sợ hãi
Tiếng khóc cười, nức nở và rên la:-
Adonis! Adonis!

Bức tranh của chàng thanh niên tuyệt đẹp
Nằm trên mặt đất, chết và nhợt nhòa
Máu đã nhuộm đỏ thắm những bông hoa
Tiếng than van tràn đầy không khí:-
Adonis! Adonis!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Lễ hội mùa xuân (Frühlingsfeier) từ chùm Romanzen của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Frühlingsfeier

Heinrich Heine (1797-1856)

Das ist des Frühlings traurige Lust!
Die blühenden Mädchen, die wilde Schar,
Sie stürmen dahin, mit flatterndem Haar
Und Jammergeheul und entblößter Brust: -
Adonis! Adonis!

Es sinkt die Nacht. Bei Fackelschein,
Sie suchen hin und her im Wald,
Der angstverwirret wiederhallt
Von Weinen und Lachen und Schluchzen und Schrein:
Adonis! Adonis!

Das wunderschöne Jünglingsbild,
Es liegt am Boden blaß und tot,
Das Blut färbt alle Blumen rot,
Und Klagelaut die Luft erfüllt: -
Adonis! Adonis!

Chú thích của người dịch:

(1) Adonis: Chàng thanh niên tuyệt đẹp trong thần thoại Hy Lạp, người yêu của Aphrodite. Nhiều truyền thuyết xoay quanh Adonis đề cập tới tình yêu không thỏa đáp, cái chết và sự phục sinh cũng như đức tin về một nữ thần Chúa Mẫu tạo ra cuộc sống.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Eugène Henri Paul Gauguin (1848-1903): Họa sĩ Hậu Ấn tượng Pháp, một trong những nghệ sĩ mở đường cho Hội họa hiện đại.

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2020

Một cô ả

Heinrich Heine (1797-1856)
     

Từ chùm Những bài ca tình sử (Romanzen)

Ả là quái nữ, gã là kẻ trộm
Hai đứa chúng yêu nhau thiết tha.
Nếu gã làm những trò quỉ ma,
Ả vật xuống giường, cười khúc khích.

Ngày trôi qua trong truy hoan và phấn khích
Ả gối vào ngực gã đêm đêm.
Khi người ta mang gã vào tù ngục,
Ả đứng bên song ré cười lên.

Gã nhắn tin ra: anh nhớ lắm,
Ôi đến với anh đi, em yêu ơi!
Anh gọi em hoài, anh héo úa -
Ngúc ngoắc đầu ả ré lên cười.

Sáu giờ sáng gã bị treo cổ
Bảy giờ sáng gã được ròng xuống mộ;
Nhưng ả vừa mới tám giờ thôi
Uống rượu vang, và ré lên cười.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Một cô ả (Ein Weib) từ chùm Romanzen của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Ein Weib

Heinrich Heine (1797-1856)

Sie hatten sich beide so herzlich lieb,
Spitzbübin war sie, er war ein Dieb.
Wenn er Schelmenstreiche machte,
Sie warf sich aufs Bett und lachte.

Der Tag verging in Freud und Lust,
Des Nachts lag sie an seiner Brust.
Als man ins Gefängnis ihn brachte,
Sie stand am Fenster und lachte.

Er ließ ihr sagen: O komm zu mir,
Ich sehne mich so sehr nach dir,
Ich rufe nach dir, ich schmachte -
Sie schüttelt' das Haupt und lachte.

Um sechse des Morgens ward er gehenkt,
Um sieben ward er ins Grab gesenkt;
Sie aber schon um achte
Trank roten Wein und lachte.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Henri de Toulouse-Lautrec (1864-1901): Họa sĩ, nhà đồ họa người Pháp.

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2020

Những Bài ca Sáng thế (IV-VII)

Heinrich Heine (1797-1856)   



IV.

Ngỡ vừa bắt tay vào sáng tạo
Trong một tuần, thế giới đã xong
Thế mà ta trước đó ngàn năm ròng
Suy ngẫm sâu xa phác đồ sáng thế.

Sự sáng tạo tự điệu đà vận động,
Lẹ tạt qua trong một hạn ngắn kỳ
Tuy nhiên phác đồ và sự tính suy
Sau mới tỏ ra, ai là người nghệ sĩ.

Suốt ba trăm năm trời, đơn chiếc
Ngày lại ngày ta nghĩ lại về điều
Làm sao tạo ra, tốt nhất, tiến sĩ luật
Còn làm ra cả con rệp bé teo.

V.

Ngày thứ Sáu vị Chúa Tể nói:
Kết cục ta nay đã hoàn thành
Sự Sáng thế đẹp tươi, vĩ đại
Ta đã làm tất cả tốt lành?

Như mặt trời vàng son hồng ánh
Trong đại dương óng phản chiếu vào
Như cây cối xanh tươi và óng ả
Chẳng phải như tất cả vẽ sao?

Có thấy không trắng như ngần thạch
Những con cừu nơi đó thảo nguyên,
Chẳng lẽ không đẹp tươi hoàn tất
Và nguyên sơ mang vẻ Thiên nhiên?

Trái đất và Bầu trời toàn vẹn
Tràn đầy của ta ánh rạng ngời
Và con người sẽ ngợi khen ta mãi
Tới vĩnh cửu muôn đời!

VI.

Nào đâu dễ như mút từ đầu ngón
Chất liệu, vật liệu của bài thơ
Không Chúa thánh, cả ca sĩ trần tục
Sáng tạo ra thế giới từ hư vô.

Từ đống nhơ bày của thế giới nguyên thủy
Ta tạo tác ra thân thể đàn ông
Từ xương sườn của người nam ấy
Ta tạo ra những người nữ đẹp xinh.

Ta tạo ra bầu trời từ trái đất,
Từ phát huy người nữ ra các thiên thần;
Chất liệu chỉ đạt được giá trị bản thân
Sau khi qua trình bày nghệ thuật.

VII.

Vì sao thế, thực ra ta sáng tạo
Ra thế gian, ta muốn thú thực lòng:
Ta cảm nhận, trong linh hồn cháy bỏng
Nghề nghiệp ta, như ngọn lửa điên khùng.

Bệnh trạng thế nên là lý do chót
Của sự thôi thúc sáng tạo sục sôi;
Khi tạo tác ta có thể phục hồi
Trong tạo tác ta trở nên mạnh khỏe.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Những bài ca Sáng Thế (Schöpfungslieder) từ tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới, gồm 7 đoạn đánh theo số La mã.

Schöpfungslieder

Heinrich Heine (1797-1856)

IV.

Kaum hab ich die Welt zu schaffen begonnen,
In einer Woche wars abgetan.
Doch hatt ich vorher tief ausgesonnen
Jahrtausendlang den Schöpfungsplan.

Das Schaffen selbst ist eitel Bewegung,
Das stümpert sich leicht in kurzer Frist;
Jedoch der Plan, die Überlegung,
Das zeigt erst, wer ein Künstler ist.

Ich hab allein dreihundert Jahre
Tagtäglich drüber nachgedacht,
Wie man am besten Doctores juris
Und gar die kleinen Flöhe macht.

V.

Sprach der Herr am sechsten Tage:
Hab am Ende nun vollbracht
Diese große, schöne Schöpfung,
Und hab alles gut gemacht.

Wie die Sonne rosengoldig
In dem Meere widerstrahlt!
Wie die Bäume grün und glänzend!
Ist nicht Alles wie gemalt?

Sind nicht weiß wie Alabaster
Dort die Lämmchen auf der Flur?
Ist sie nicht so schön vollendet
Und natürlich die Natur?

Erd und Himmel sind erfüllet
Ganz von meiner Herrlichkeit,
Und der Mensch, er wird mich loben
Bis in alle Ewigkeit!

VI.

Der Stoff, das Material des Gedichts,
Das saugt sich nicht aus dem Finger;
Kein Gott erschafft die Welt aus nichts,
So wenig wie irdische Singer.

Aus vorgefundenem Urweltsdreck
Erschuf ich die Männerleiber,
Und aus dem Männerrippenspeck
Erschuf ich die schönen Weiber.

Den Himmel erschuf ich aus der Erd
Und Engel aus Weiberentfaltung;
Der Stoff gewinnt erst seinen Wert
Durch künstlerische Gestaltung.

VII.

Warum ich eigentlich erschuf
Die Welt, ich will es gern bekennen:
Ich fühlte in der Seele brennen
Wie Flammenwahnsinn, den Beruf.

Krankheit ist wohl der letzte Grund
Des ganzen Schöpferdrangs gewesen;
Erschaffend konnte ich genesen,
Erschaffend wurde ich gesund.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Michelangelo - Michelangelo di Lodovico Buonarroti Simoni (1475 – 1564): Họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhà thơ thời Phục hưng Ý.

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2020

Những Bài ca Sáng thế (I-III)

Heinrich Heine (1797-1856)  


I.

Chúa sáng tạo ra vầng dương, thủa ban đầu,
Sau đến những vì tinh tú sáng đêm thâu,
Cũng trên đó Ngài sáng tạo ra bò mộng,
Từ mồ hôi Ngài trên trán dãi dầu.

Sau Ngài tạo ra những thú vật man rợ:
Sư tử mang móng vuốt đáng rùng mình,
Ngài căn cứ theo khuôn hình sư tử
Tạo tác ra những con mèo bé, xinh.

Rồi sau này Con Người được tạo tác
Thêm vào dân cư ngụ xứ hồng hoang;
Theo khuôn hình của giống người cao sang
Ngài sáng tạo ra con khỉ thú vị.

Quỷ Sa tăng nhìn vào và cười rộ:
Chúa Trời mà còn sao cóp, ôi ê!
Theo khuôn hình của những con bò đực
Kết cục Ngài làm ra cả con bê.

II.

Và Thượng đế nói với con quỉ:
- Ta Chúa Trời tự sao chép khuôn kia
Căn cứ mặt trời ta làm ra tinh tú
Theo hình bò mộng ta làm những con bê.
Căn vào sư tử với những móng vuốt
Ta làm ra mèo nhỏ đáng yêu sao
Dựa vào con người ta làm ra khỉ
Nhưng mi có làm ra cái quái gì đâu.

III.

Ta sao tạc cho ta vì vinh quang và danh giá
Nào con người, sư tử, bò mộng và mặt trời.
Sao trời, bê, mèo và khỉ, thế đấy
Ta tạo ra riêng niềm vui thú ở đời.

(còn nữa)

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Những Bài ca Sáng thế (Schöpfungslieder) từ tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới, gồm 7 đoạn đánh theo số La mã.

Schöpfungslieder

Heinrich Heine (1797-1856)

I.

Im Beginn schuf Gott die Sonne,
Dann die nächtlichen Gestirne;
Hierauf schuf er auch die Ochsen,
Aus dem Schweiße seiner Stirne.

Später schuf er wilde Bestien,
Löwen mit den grimmen Tatzen;
Nach des Löwen Ebenbilde
Schuf er hübsche kleine Katzen.

Zur Bevölkerung der Wildnis
Ward hernach der Mensch erschaffen;
Nach des Menschen holdem Bildnis
Schuf er intressante Affen.

Satan sah dem zu und lachte:
Ei, der Herr kopiert sich selber!
Nach dem Bilde seiner Ochsen
Macht er noch am Ende Kälber!
II.

Und der Gott sprach zu dem Teufel:
Ich, der Herr, kopier mich selber,
Nach der Sonne mach ich Sterne,
Nach den Ochsen mach ich Kälber,
Nach den Löwen mit den Tatzen
Mach ich kleine liebe Katzen,
Nach den Menschen mach ich Affen;
Aber du kannst gar nichts schaffen.

III.

Ich hab mir zu Ruhm und Preis erschaffen
Die Menschen, Löwen, Ochsen, Sonne;
Doch Sterne, Kälber, Katzen, Affen
Erschuf ich zu meiner eigenen Wonne.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Michelangelo - Michelangelo di Lodovico Buonarroti Simoni (1475 – 1564): Họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhà thơ thời Phục hưng Ý.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...