Thứ Tư, 29 tháng 7, 2020

Những thiên thần

Heinrich Heine (1797-1856)   

Tranh© L.Pasternak (1862-1945)

Một Thomas vô thần, vốn dĩ
Là tôi không tin có thiên đường,
Ở Roma, thánh thuyết giáo trường
Và ở Jeruralem hứa có.

Không bao giờ tôi nghi ngờ điều đó
Rằng thiên thần hiện hữu tuy nhiên
Những sinh linh sáng không khiếm khuyết
Lờn vờn trên trần thế biến thiên.

Có điều, thưa phu nhân tôn quí
Tôi chối bỏ cánh của sinh thể này
Có đấy thiên thần không có cánh bay
Như bản thân tôi từng trông thấy.

Dễ thương với hai bàn tay màu trắng
Dễ thương với ánh mắt mỹ miều
Họ bảo vệ con người, và tránh
Cho con người khỏi phận hẩm hiu.

Sự độ lượng và ân ban từ họ
An ủi mỗi người, mà thế phần dôi
Dành cho người gánh đau khổ gấp đôi
Kẻ người đời gọi chính danh thi sĩ.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Những thiên thần từ chùm Zur Ollea của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Die Engel

Heinrich Heine (1797-1856)

Freilich, ein ungläubger Thomas,
Glaub ich an den Himmel nicht,
Den die Kirchenlehre Romas
Und Jerusalems verspricht.

Doch die Existenz der Engel,
Die bezweifelte ich nie;
Lichtgeschöpfe sonder Mängel,
Hier auf Erden wandeln sie.

Nur, genädge Frau, die Flügel
Sprech ich jenen Wesen ab;
Engel gibt es ohne Flügel,
Wie ich selbst gesehen hab.

Lieblich mit den weißen Händen,
Lieblich mit dem schönen Blick
Schützen sie den Menschen, wenden
Von ihm ab das Mißgeschick.

Ihre Huld und ihre Gnaden
Trösten jeden, doch zumeist
Ihn, der doppelt qualbeladen,
Ihn, den man den Dichter heißt.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Chân dung Rainer Maria Rilke- Tranh của Leonid Ossipowitsch Pasternak (1862-1945): Họa sĩ Nga gốc Do thái.

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2020

Những vì sao thông minh

Heinrich Heine (1797-1856)     



Bàn chân chạm vào hoa sao dễ,
Những đóa hoa bị xéo phần nhiều;
Người đời đi qua, giẫm đứt cánh,
Bọn cuồng điên cũng như lũ hỗn hào.

Ngọc trai ẩn sâu trong lòng biển,
Thế mà người ta biết mò ra;
Đục một lỗ, người đời xâu vào ách
Vào cái ách của dây buộc lụa là.

Tinh tú thông minh chúng giữ phép
Tránh cho xa trái đất chúng ta;
Là ánh soi thế giới, trên chín tầng bao la
Chúng đứng vững muôn đời, những vì tinh tú.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Kluge Sterne

Heinrich Heine (1797-1856)

Die Blumen erreicht der Fuß so leicht,
Auch werden zertreten die meisten;
Man geht vorbei und tritt entzwei
Die blöden wie die dreisten.

Die Perlen ruhn in Meerestruhn,
Doch weiß man sie aufzuspüren;
Man bohrt ein Loch und spannt sie ins Joch,
Ins Joch von seidenen Schnüren.

Die Sterne sind klug, sie halten mit Fug
Von unserer Erde sich ferne;
Am Himmelszelt, als Lichter der Welt,
Stehn ewig sicher die Sterne.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh Henry Pether (1828-1865): Họa sĩ Anh.

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2020

Helena

Heinrich Heine (1797-1856)      


Em đã gọi hồn anh từ nấm mộ
Bởi ý chí mầu nhiệm của em,
Hồi sinh anh với khối lửa khát thèm –
Nay than rực, em không sao dập.


Hãy áp miệng vào môi anh, ép chặt
Hơi thở người thuộc thần thánh chí tôn -
Anh uống cạn của em linh hồn,

Những người chết không sao no đủ.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Helena từ chùm Zur Ollea của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Helena

Heinrich Heine (1797-1856)

Du hast mich beschworen aus dem Grab
Durch deinen Zauberwillen,
Belebtest mich mit Wollustglut -
Jetzt kannst du die Glut nicht stillen.

Preß deinen Mund an meinen Mund,
Der Menschen Odem ist göttlich!
Ich trinke deine Seele aus,
Die Toten sind unersättlich.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của William Adolphe Bouguereau (1825 - 1905): Họa sĩ Pháp, bậc thầy của phái Cổ điển Hàn lâm và Hiện thực Cổ điển.

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2020

Nỗi khát khao

Heinrich Heine (1797-1856)    

Tranh ©Lê Phổ: Vietnamese Painter

Anh nhìn hoa thần kỳ trong mộng
Đang lặng thinh nở sắc sáng bừng;
Với khát khao và nỗi nhớ nhung
Hương hoa đưa làm anh mãn nguyện.

Ấy mà thế từ hoa, một đáy vực
Chia lìa anh sâu thẳm, và kinh hồn;
Kết cục tim anh vô tận buồn
Và nhỏ máu, và tim anh đau đớn.

Sao lung linh, sao hoa mơn trớn
Làm sao sang đấy được? ôi chao,
Bác phó búa, bạn yêu, có thể
Đóng cho tôi chiếc cầu bắc qua nào?

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Nỗi khát khao từ chùm Zur Ollea của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Sehnsüchtelei

Heinrich Heine (1797-1856)

In dem Traum siehst du die stillen
Fabelhaften Blumen prangen;
Und mit Sehnsucht und Verlangen
Ihre Düfte dich erfüllen.

Doch von diesen Blumen scheidet
Dich ein Abgrund tief und schaurig,
Und dein Herz wird endlich traurig,
Und es blutet und es leidet.

Wie sie locken, wie sie schimmern!
Ach, wie komm ich da hinüber?
Meister Hämmerling, mein Lieber,
Kannst du mir die Brücke zimmern?

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:

"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Lê Phổ (1907 - 2001): Vietnamese Painter.

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2020

Chiếc lò sưởi cũ

Heinrich Heine (1797-1856)     

Tranh của © Carl Spitzweg (1808-1885)
 
Ngoài kia kéo qua chùm tuyết trắng
Suốt đêm trường, bão tuyết ào ào
Trong sảnh nhỏ nơi này khô ráo
Ấm áp, cô đơn và gần gũi làm sao.

Trong ghế bành tôi ngồi nghĩ ngợi
Lò sưởi bên củi lách tách nổ đều
Ấm nước sôi rin rít đang kêu
Ca điệu nhạc từ lâu đã tắt.

Một chú mèo ngồi ngay bên cạnh
Giơ chân hong bên lửa rực hồng
Và ngọn lửa leo lét bốc lên không
Thật tuyệt thú, lòng tôi thêm hăng hái.

Mờ tỏ hiện lên thời xưa trở lại
Đã từ lâu quên lãng vùi xa
Như mặt nạ sặc sỡ diễu qua
Với mờ phai ánh huy hoàng sót lại.

Đàn bà đẹp với nét mặt thông thái
Ngoắc vẫy tay vẻ bí mật ngọt ngào
Bầy quỷ ha-lơ-kin nhảy múa hát ngao
Xen màn trò, nói cười vui vẻ.

Thánh tượng cẩm thạch từ xa chào đón
Đứng ở bên họ, đẹp như mơ
Hoa lá nở như trong cổ tích
Lá vờn bay trong ánh trăng mờ.

Đôi ba lâu đài xưa nhiệm màu thần chú
Ngả nghiêng qua, rồi bồng bềnh trôi
Từ sau kia kỵ mã giáp sáng ngời
Đang phi tới, cả thiếu niên hậu trạm.

Và tất cả kéo dồn qua trước mặt
Hắt bóng chen nhau quá mức vội vàng
Ối trời! Ấm đun trào nước bắn vọt sang
Con mèo ướt nước ngoao lên hét.

©®Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Altes Kaminstück

Heinrich Heine (1797-1856)

Draußen ziehen weiße Flocken
Durch die Nacht, der Sturm ist laut;
Hier im Stübchen ist es trocken,
Warm und einsam, stillvertraut.

Sinnend sitz ich auf dem Sessel,
An dem knisternden Kamin,
Kochend summt der Wasserkessel
Längst verklungne Melodien.

Und ein Kätzchen sitzt daneben,
Wärmt die Pfötchen an der Glut;
Und die Flammen schweben, weben,
Wundersam wird mir zu Mut.

Dämmernd kommt heraufgestiegen
Manche längst vergeßne Zeit,
Wie mit bunten Maskenzügen
Und verblichner Herrlichkeit.

Schöne Fraun, mit kluger Miene,
Winken süßgeheimnisvoll,
Und dazwischen Harlekine
Springen, lachen, lustigtoll.

Ferne grüßen Marmorgötter,
Traumhaft neben ihnen stehn
Märchenblumen, deren Blätter
In dem Mondenlichte wehn.

Wackelnd kommt herbeigeschwommen
Manches alte Zauberschloß;
Hintendrein geritten kommen
Blanke Ritter, Knappentroß.

Und das alles zieht vorüber,
Schattenhastig übereilt.
Ach! da kocht der Kessel über,
Und das nasse Kätzchen heult.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:

„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:

"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Carl Spitzweg (1808-1885): Họa sĩ Đức, có vị trí biệt lập trong hội họa Đức.

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2020

Mùa đông

Heinrich Heine (1797-1856)    

Tranh © Alfred Sysley (1839-1899)

Thật mà, lạnh có thể bỏng
Như lửa. Những đứa con người
Lao trong tuyết mịt mù trời
Và luôn chạy mau hơn nữa.

Ôi cái buốt đông cay nghiệt
Mũi người đông cứng, rét căm
Những bản concert dương cầm
Xé tai người ta rách toác.

Mùa hè thích hơn, dứt khoát,
Tôi có thể dạo rừng sâu
Một mình với nỗi ưu sầu
Hát vống bài ca tình ái.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Mùa đông từ chùm Zur Ollea của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới (còn sửa).

Winter

Heinrich Heine (1797-1856)

Die Kälte kann wahrlich brennen
Wie Feuer. Die Menschenkinder
Im Schneegestöber rennen
Und laufen immer geschwinder.

O, bittre Winterhärte!
Die Nasen sind erfroren,
Und die Klavierkonzerte
Zerreißen uns die Ohren.

Weit besser ist es im Summer,
Da kann ich im Walde spazieren,
Allein mit meinem Kummer,
Und Liebeslieder skandieren.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Alfred Sysley (1839-1899): Họa sĩ phái Ấn tượng Pháp.

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2020

Rảo bước đi!

Heinrich Heine (1797-1856)   

Tranh© Lotte Laserstein (1898-1993)

Nếu anh bị đàn bà phản bội
Thì yêu luôn một cô khác cho nhanh;
Còn hay hơn: rời bỏ chốn thị thành
Buộc chặt cân đai và dạo bước.

Chằng mấy chốc tìm thấy hồ xanh nước
Xung quanh bờ viền bóng thùy dương;
Khóc vơi đi niềm nhỏ nhặt xót thương
Và của anh, sự khổ đau chật hẹp.

Nếu leo lên ngọn núi dựng đứng
Khá thấy anh sẽ thở hắt ra:
Nhưng chiếm được đỉnh núi đá nhọn
Anh sẽ nghe đại bàng núi gào la.

Anh sắp thành con đại bàng nơi đó
Anh sẽ như vừa được hồi sinh;
Anh cảm thấy tự do, thấy chính mình
Ở dưới kia chẳng mất gì nhiều nhặn.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Rảo bước đi từ chùm Zur Ollea của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Wandere!

Heinrich Heine (1797-1856)

Wenn dich ein Weib verraten hat,
So liebe flink eine Andre;
Noch besser wär es, du ließest die Stadt -
Schnüre den Ranzen und wandre!

Du findest bald einen blauen See,
Umringt von Trauerweiden;
Hier weinst du aus dein kleines Weh
Und deine engen Leiden.

Wenn du den steilen Berg ersteigst,
Wirst du beträchtlich ächzen;
Doch wenn du den felsigen Gipfel erreichst,
Hörst du die Adler krächzen.

Dort wirst du selbst ein Adler fast,
Du bist wie neugeboren,
Du fühlst dich frei, du fühlst: du hast
Dort unten nicht viel verloren.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Lotte Laserstein (1898-1993): Nữ họa sĩ Đức.

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2020

Biểu tượng của sự vô nghĩa

Heinrich Heine (1797-1856)      



Bây giờ chúng ta cùng cao giọng
Hát bài về một con số, cùng ca
Đích danh nêu là chính số Ba
Sau sướng vui ắt đến ngay buồn bực.

Vốn con số có cội nguồn Ả Rập
Khắp vùng Thiên chúa giáo tuy nhiên
Không ai xưa ở châu Âu toàn cõi
Ngoan đạo hơn con số vốn hiền.

Nó là mẫu mực của nền nếp
Như con tôm hùm mặt đỏ lên dần;
Bắt cậu gia nô trên giường cô hầu gái,
Cho cả hai một cái vả nên thân.

Nhưng mà bây giờ đổi thay vần nhịp
Và những ngày cũng đổi thay cùng;
Vậy nên cái số Ba tội nghiệp phải
Cam chịu thêm khổ sở và ngượng ngùng.

Có lão thợ giầy đến, lão nói:
Cái đầu của số Ba có khi
Trông giống một con số Bảy bé ti
Đứng ở trên vầng trăng khuyết nửa.

Số Bảy là con số huyền bí
Của môn đệ Pythagoras (1) xưa xa,
Nửa trăng nghĩa: sự phục vụ Diana (2),
Nhắc nhở tộc người Sabeans (3) nữa.

Bản thân nó, số Ba là tín ngữ
Của bậc trưởng thượng xứ Babel,
Xưa kia thông qua mối tình duyên
Sinh ra ngụ ngôn ba ngôi thần thánh.

Một thợ thuộc da chen vào cự nự:
„Số Ba là cô ả ngốc sùng tin,
Được các chú cha ta thờ phụng
Xưa tin vào bất kể gái lọ lem.“

Lại có một bác thợ may cười nói,
Rằng làm chi có sự ấy trên đời!
Con số Ba, ấy là nó chỉ
Nằm ở trên giấy má mà thôi.

Số Ba đáng thương khi nghe điều ấy
Như một con vịt tuyệt vọng trông kìa
Lạch bạch chúi bên này, chúi bên kia
Nó đã than van và rên ư ử:

Tôi đã già nua như rừng và bể
Như ngôi sao đang nhấp nháy trên trời
Thấy những vương quốc xuất hiện và chôn vùi
Những tộc người dâng lên và chìm xuống

Tôi đứng ở khung cửi thời đại
Đang ầm ào hàng kỷ thiên niên
Tôi nhìn tỏ tường bụng dạ của tự nhiên
Tạo tác đang gầm gào và dậy sóng.

Mà bất chấp tôi đương đầu bão tố
Của những bạo cường linh cảm tối tăm
Tôi giữ nguyên của tôi sức thanh tân
Trong mọi sự ồn ào điều tiếng.

Đức hạnh giờ giúp gì cho tôi nhỉ?
Người thông thái, kẻ ngu đần nhạo tôi
Thế giới này bất công và tệ hại
Chẳng tha ai cạo trọc bôi vôi.

Mà thế, hãy an ủi mình, tim tôi ạ
Tin, yêu và hy vọng luôn còn;
Sự ngờ vực nào có thể cướp được
Của tôi ngụm rum và tách cà phê ngon.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ Biểu tượng của vô nghĩa (Symbolik des Unsinns) từ chùm Zur Olla của tập Neue Gedichte - Những bài thơ mới.

Symbolik des Unsinns

Heinrich Heine (1797-1856)

Wir heben nun zu singen an
Das Lied von einer Nummer,
Die ist geheißen Nummer Drei;
Nach Freuden kommt der Kummer.

Arabischen Ursprungs war sie zwar,
Doch christentümlich frummer
In ganz Europa niemand war
Wie jene brave Nummer.

Sie war ein Muster der Sittlichkeit
Und wurde rot wie ein Hummer,
Fand sie den Knecht im Bette der Magd;
Gab beiden einen Brummer.

Des Morgens trank sie den Kaffee
Um sieben Uhr im Summer,
Im Winter um neun, und in der Nacht
Genoß sie den besten Schlummer.

Jetzt aber ändert sich der Reim,
Und ändern sich die Tage;
Es muß die arme Nummer Drei
Erdulden Pein und Plage.

Da kam ein Schuster und sagte: der Kopf
Der Nummer Drei, der sähe
Wie eine kleine Sieben aus,
Die auf einem Halbmond stehe.

Die Sieben sei aber die mystische Zahl
Der alten Pythagoräer,
Der Halbmond bedeute Dianendienst,
Er mahne auch an Sabäer.

Sie selber, die Drei, sei Schiboleth
Des Oberbonzen von Babel;
Durch dessen Buhlschaft sie einst gebar
Die heilge Dreieinigkeitsfabel.

Ein Kürschner bemerkte dagegen: die Drei
Sie eine fromme Trulle,
Verehrt von unsern Vätern, die einst
Geglaubt an jede Schrulle.

Da war ein Schneider, der lächelnd sprach,
Daß gar nicht existiere
Die Nummer Drei, daß sie sich nur
Befinde auf dem Papiere.

Als solches hörte die arme Drei,
Wie eine verzweifelte Ente,
Sie wackelte hin, sie wackelte her,
Sie jammerte und flennte:

Ich bin so alt wie das Meer und der Wald,
Wie die Stern, die am Himmel blinken;
Sah Reiche entstehn, sah Reiche vergehn
Und Völker aufsteigen und sinken.

Ich stand am schnurrenden Webstuhl der Zeit
Wohl manches lange Jahrtausend;
Ich sah der Natur in den schaffenden Bauch,
Das wogte brausend und sausend.

Und dennoch widerstand ich dem Sturm
Der sinnlich dunkeln Gewalten -
Ich habe meine Jungferschaft
In all dem Spektakel behalten.

Was hilft mir meine Tugend jetzt?
Mich höhnen Weise und Toren;
Die Welt ist schlecht und ungerecht,
Läßt niemand ungeschoren.

Doch tröste dich, mein Herz, dir blieb
Dein Lieben, Hoffen, Glauben,
Auch guter Kaffee und ein Schlückchen Rum,
Das kann keine Skepsis mir rauben.

Chú thích của người dịch:

(1) Pythagoras von Samos (570-510 trước Công Nguyên): Nhà triết học, nhà toán học trước Sokates. Môn đồ của ông tìm cách lý giải vạn vật trong sự hính thành và cấu trúc, phát triển theo tính các con số.
(2) Diana trong thần thoại Roma là nữ thần mặt trăng, tương đương với Artemis trong thần thoại Hy Lạp.
(3) Sabeans: Sắc tộc Do thái từng cư ngụ phía Tây Nam bán đảo Ả Rập.

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của William Turner (1775-1851): Họa sĩ Anh thời kỳ Lãng mạn.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...