Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2022

Cuộc đời tôi có áo bào và bộ tóc

Rainer Maria Rilke (1875-1926)   

  


Cuộc đời tôi có áo bào và bộ tóc tương tự
như tất cả Sa hoàng xưa trong giờ phút lâm chung.

Quyền lực chỉ làm miệng lưỡi tôi nói nhịu,
tôi kín đáo tính tròn những vương quốc trong tay
quây quần lại trong hậu cứ của tôi thế đó,
Và giác quan tôi còn là kẻ trị vì đây.

Cầu khấn cho chúng vẫn luôn còn là: kiến tạo,
dựng xây từ mọi chuẩn mực, khiến cho
sự hoang tàn trở nên đẹp và tầm vóc, gần như, -
và: mỗi sự quì sụp và lòng tin cậy
(sao cho những người khác không nhìn thấy)
mãi vượt cao với những tháp vàng đương
cùng tháp sặc sỡ màu và những tháp xanh dương.

Bởi chưng những nhà thờ và tu viện
trong sự phục sinh và bước thăng hoa
là những cây thụ cầm - kẻ tang tình an ủi -,
khi tay người nửa siêu thoát đan qua
trước các nữ hoàng và những nàng trinh nữ.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức 

Mein Leben hat das gleiche Kleid und Haar

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Mein Leben hat das gleiche Kleid und Haar
wie aller alten Zaren Sterbestunde.

Die Macht entfremdete nur meinem Munde,
doch meine Reiche, die ich schweigend runde,
versammeln sich in meinem Hintergrunde
und meine Sinne sind noch Gossudar.

Für sie ist beten immer noch: Erbauen,
aus allen Maßen bauen, dass das Grauen
fast wie die Größe wird und schön, -
und: jedes Hinknien und Vertrauen
(dass es die andern nicht beschauen)
mit vielen goldenen und blauen
und bunten Kuppeln überhöhn.

Denn was sind Kirchen und sind Klöster
in ihrem Steigen und Erstehn
als Harfen, tönende Vertröster,
durch die die Hände Halberlöster
vor Königen und Jungfraun gehn.

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Wassily Kandinsky (1866-1944): Họa sĩ, nhà đồ họa và lý thuyết nghệ thuật người Nga.

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

Khởi đầu tình yêu

Rainer Maria Rilke (1875-1926)  




Ôi mỉm cười, nụ cười đầu, ta cười mỉm.
Điều duy nhất là sao nhỉ: thở mùi hương của cây đoan,
Nghe sự yên ắng của công viên,- bất chợt ngước lên
nhìn lắng vào trong nhau và ngỡ ngàng đến gần nụ cười mỉm.

Trong thoáng cười này có sự hồi tưởng
về một con thỏ bên kia trên bãi cỏ đùa chơi,
đó là tuổi ấu thơ của mỉm cười.
Nghiêm nghị hơn đã nhập vào nụ cười sự chuyển động
của thiên nga, sau này ta đã nhìn thấy chia mặt ao
thành hai nửa của chiều tà không tiếng động. –
và đối với nụ cười này, dải tán lá
viền bầu trời đêm nguyên khôi, lồng lộng
hoàn toàn thuộc hẳn ngày mai,
đã kéo quầng quanh tương lai
phấn chấn trên gương mặt.


©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Liebesanfang

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

O Lächeln, erstes Lächeln, unser Lächeln.
Wie war das Eines: Duft der Linden atmen,
Parkstille hören-, plötzlich ineinander
aufschaun und staunen bis heran ans Lächeln.


In diesem Lächeln war Erinnerung
an einen Hasen, der da eben drüben
im Rasen spielte; dieses war die Kindheit
des Lächelns. Ernster schon war ihm des Schwanes
Bewegung eingegeben, den wir später
den Weiher teilen sahen in zwei Hälften
lautlosen Abends. - Und der Wipfel Ränder
gegen den reinen, freien, ganz schon künftig
nächtigen Himmel hatten diesem Lächeln
Ränder gezogen gegen die entzückte
Zukunft im Antlitz.

Chú thích của người dịch:
Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).


Tranh của Dương Bích Liên (1924 – 1988): Vietnamese Painter.

Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2022

Với một cành

Rainer Maria Rilke (1875-1926)  



Với một cành, không khi nào giống thứ cành cây nọ
Đức Chúa như cây cũng vào hạ, đột nhiên
rì rào từ độ chín, và ngả ý phán truyền;
trong đất nước, nơi con người nghe ngóng
nơi mỗi kẻ giống như tôi lẻ bóng.

Bởi chỉ riêng kẻ cô đơn mới được mặc khải,
và nhiều kẻ cô đơn cũng tương tự nòi nhà
được cho nhiều hơn kẻ duy nhất mình hạn hẹp.
Bởi với mỗi người một Đức Chúa khác hiện ra
tới khi họ nhận biết, gần như bật khóc,
rằng qua hàm ý dặm ngàn xa lắc,
qua cảm nhận và phủ nhận của họ, không sai
họ chỉ khác biệt nhau trong trăm thứ thuộc Ngài
một Đức Chúa Trời đi như một làn sóng.

Đó là lời kinh cầu rốt ráo nhất,
những kẻ nhìn trông rồi tự nhủ hằng thường:
Cội rễ Đức Chúa Trời đã đơm hoa kết trái
tới đó đi, đập nát những quả chuông;
ta đi đến những ngày thêm yên lắng
ở đó khắc giờ chín muồi im đứng.
Cội rễ Đức Chúa Trời đã kết trái đơm bông.
Nghiêm nghị đi và hãy nhìn trông.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Mit einem Ast

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Mit einem Ast, der jenem niemals glich,
wird Gott, der Baum, auch einmal sommerlich
verkündend werden und aus Reife rauschen;
in einem Lande, wo die Menschen lauschen,
wo jeder ähnlich einsam ist wie ich.

Denn nur dem Einsamen wird offenbart,
und vielen Einsamen der gleichen Art
wird mehr gegeben als dem schmalen Einen.
Denn jedem wird ein andrer Gott erscheinen,
bis sie erkennen, nah am Weinen,
dass durch ihr meilenweites Meinen,
durch ihr Vernehmen und Verneinen,
verschieden nur in hundert Seinen
ein Gott wie eine Welle geht.

Das ist das endlichste Gebet,
das dann die Sehenden sich sagen:
Die Wurzel Gott hat Frucht getragen,
geht hin, die Glocken zu zerschlagen;
wir kommen zu den stillern Tagen,
in denen reif die Stunde steht.
Die Wurzel Gott hat Frucht getragen.
Seid ernst und seht.

Chú thích của người dịch:
Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.
Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Marc Chagall (1887-1985): Họa sĩ Pháp gốc Nga – Do thái.

Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2022

Tôi yêu những khắc giờ tăm tối

Rainer Maria Rilke (1875-1926)  




Tôi yêu những khắc giờ tăm tối
của bản thể tôi, nơi các giác quan vươn tới sâu xa;
trong chúng như trong các bức thư cũ, tôi tìm thấy
đời thường nhật của mình tôi đã sống qua
như huyền thoại đã kinh qua và xa lắc.

Từ chúng đến với tôi tri thức,
rằng tôi có không gian tới cuộc đời thứ hai rộng trải, vô thời.
Và thư thoảng tôi như cây, chín và xào xạc trên nấm mộ người
thỏa giấc mơ của bé trai xưa thủa
(xung quanh cậu rễ ấm dồn vây bủa)
đánh mất đi trong những khúc hát và buồn thương.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Ich liebe meines Wesens Dunkelstunden

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Ich liebe meines Wesens Dunkelstunden,
in welchen meine Sinne sich vertiefen;
in ihnen hab ich, wie in alten Briefen,
mein täglich Leben schon gelebt gefunden
und wie Legende weit und überwunden.

Aus ihnen kommt mir Wissen, dass ich Raum
zu einem zweiten zeitlos breiten Leben habe.
Und manchmal bin ich wie der Baum,
der, reif und rauschend, über einem Grabe
den Traum erfüllt, den der vergangne Knabe
(um den sich seine warmen Wurzeln drängen)
verlor in Traurigkeiten und Gesängen.

(Stundenbuch 1899)

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Fritz Overbeck (1869-1909): Họa sĩ Đức.

Thứ Ba, 1 tháng 2, 2022

hoa dâng

Phạm Kỳ Đăng   



cửa khép những phòng vĩnh quyết
siết nghe tiếng rạn sông băng
đang tan. những dòng nước tuyết
trắng in ngàn đóa hoa dâng

Nhâm Dần 2022

Tranh của Franz Marc (1880-1916): Họa sĩ quan trọng của chủ nghĩa Biểu hiện Đức.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...