Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2019

Rainer Maria-Rilke (1875-1926)

Tranh © Emil Nolde (1867-1954): Họa sĩ Đức
VIII

Với mây kia trên cao đó
bồng bềnh, tôi muốn tị ghen,
Như mây ném những bóng đen
Xuống những bãi cồn phơi nắng.

Làm sao che vầng dương tối,
Dám lòng táo bạo như mây;
Nếu trái đất thèm ánh sáng
đã rên rỉ dưới đường bay.

Tôi cũng muốn ngăn cản cả
sóng dâng tia chiếu vàng kim
của mặt trời, dù giây phút,
Với mây, vâng thế, tôi ghen!

IX

Với tôi: Thế giới ốm đau, ồn ã
đã tan tành bởi bất chợt chia phôi
mới đây, và duy ý tưởng thế giới
lớn lao, còn găm lại ngực tôi.

Bởi vốn thế, thế giới như tôi nghĩ
mỗi phân vân là lỡ bước đã đành;
trên cánh nắng vàng kim thanh thoát
bao lấy tôi sự an ủi rừng xanh.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ gồm 28 khổ thơ đánh theo số La mã

Träumen

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

VIII

Jene Wolke will ich neiden,
die dort oben schweben darf!
Wie sie auf besonnte Heiden
ihre schwarzen Schatten warf.

Wie die Sonne zu verdüstern
sie vermochte kühn genug,
wenn die Erde lichteslüstern
grollte unter ihrem Flug.

All die goldnen Strahlenfluten
jener Sonne wollt auch ich
hemmen! Wenn auch für Minuten!
Wolke! Ja, ich neide dich!

IX

Mir ist: Die Welt, die laute, kranke,
hat jüngst zerstört ein jäh Zerstieben,
und mir nur ist der Weltgedanke,
der grosse, in der Brust geblieben.

Denn so ist sie, wie ich sie dachte;
ein jeder Zwiespalt ist vertost:
auf goldnen Sonnenflügeln sachte
umschwebt mich grüner Waldestrost.

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh thuốc nước của © Emil Nolde (1867-1954): Họa sĩ Biểu hiện Đức.

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2019

Rainer Maria Rilke (1875-1926)   

Tranh của © Emil Nolde (1867-1954): Họa sĩ Đức
VI.

Ta ngồi bên nhau trong ánh chiều chập choạng
„ Mẹ Xíu“ (1), anh gợi chuyện, „đúng không em,
Thêm một lần em kể anh huyền thoại đẹp
về nàng công chúa tóc vàng kim?“

Từ Mẹ mất, qua những ngày nhập nhoạng
Nỗi nhớ như bà tái nhợt dẫn tôi đi,
Và huyền thoại về nàng công chúa đẹp,
Nàng tỏ tường như Mẹ Xíu khác chi.

VII

Tôi muốn, giá được quan tài nhỏ
họ làm cho tôi, thay vì một chiếc nôi
hẳn dễ chịu cho tôi hơn, hẳn đôi môi
đã từ lâu nín câm trong đêm ướt.

Thì hẳn chưa bao giờ một ý chí hoang dã
chấn rung lồng ngực sợ, đập thình thình
rồi trong thân thể nhỏ bé nín thinh,
lặng thinh vậy, như không ai nghĩ nổi.

Dường chỉ một linh hồn trẻ thoát
vút lên, cao vút tới tận trời
Gì vậy cho tôi, thay vào chiếc nôi
Sao họ không làm một quan tài nhỏ?

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Träumen

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

VI

Wir sassen beisammen im Dämmerlichte.
„Mütterchen“, schmeichelte ich, „nicht wahr,
du erzählst mir noch einmal die schöne Geschichte
von der Prinzessin mit goldnem Haar?“ –

Seit Mütterchen tot ist, durch dämmernde Tage
führt mich die Sehnsucht, die blasse Frau;
und von der schönen Prinzessin die Sage
weiss sie wie Mütterchen ganz genau ...

VII

Ich wollt, sie hätten statt der Wiege
mir einen kleinen Sarg gemacht,
dann wär mir besser wohl, dann schwiege
die Lippe längst in feuchter Nacht.

Dann hätte nie ein wilder Wille
die bange Brust durchzittert, – dann
wärs in dem kleinen Körper stille,
so still wie’s niemand denken kann.

Nur eine Kinderseele stiege
zum Himmel hoch so sacht, – ganz sacht ...
Was haben sie mir statt der Wiege
nicht einen kleinen Sarg gemacht? –

Chú thích của người dịch:

(1) Mẹ Xíu : - Mütterchen: - Truyện truyền kỳ số 8 trong phần phụ lục Truyện cổ tích Grimm kể về một bà già cô đơn kiện Chúa, bởi con bà và các bè bạn đều đã chết. Bà nghe thấy chuông đổ và thấy nhà thờ đầy người họ hàng nằm chết và chỗ của bà cũng bị chiếm mất. Một bà cố chỉ cho bà xem những đứa con trai, bảo nếu như chúng không chết trẻ cũng chết dấp ở giá treo, bánh xích. Bà đi về nhà, cám ơn Chúa rồi mất.

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh thuốc nước của © Emil Nolde (1867-1954): Họa sĩ Biểu hiện Đức.

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2019

Rainer Maria Rilke (1875-1926)  
 
Tranh của © Emil Nolde (1867-1954)
XX

Những ô cửa chong đèn ngôi nhà lặng
Khắp khu vườn đầy ắp hương hoa hồng.
Trên những rãnh trắng mây và làn khí bềnh bồng
chiều cao vút
mở căng đôi cánh.

Một tiếng chuông rót xuống vàm cỏ lạnh
Lanh như tiếng gọi từ những xứ sở trời.
Và thầm kín, trên rặng bạch dương thì thào
tôi nhìn trong đêm những ngôi sao đầu
soi rực nền xanh nhợt.

XXI

Có những đêm trắng sao huyền diệu
Mọi vật như bằng bạc ánh lên.
Kia một số ngôi sao mau lấp láy
Ngỡ mang theo những mục tử sùng tin
Tới Đức Chúa Giê su hài đồng mới.

Như rắc dầy bụi kim cương xa tới
Bỗng hiện ra sông lạch, đồng bằng,
Vô bao trái tim khoan hòa mộng,
Một đức tin không nhà nguyện vút dâng
Đang lặng lẽ mở khai điều huyền diệu.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức


Träumen

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

XX

Die Fenster glühten an dem stillen Haus,
der ganze Garten war voll Rosendüften.
Hoch spannte über weissen Wolkenklüften
der Abend in den unbewegten Lüften
die Schwingen aus.

Ein Glockenton ergoss sich auf die Au ...
Lind wie ein Ruf aus himmlischen Bezirken.
Und heimlich über flüstervollen Birken
sah ich die Nacht die ersten Sterne wirken
ins blasse Blau.

XXI

Es gibt so wunderweisse Nächte,
drin alle Dinge Silber sind.
Da schimmert mancher Stern so lind,
als ob er fromme Hirten brächte
zu einem neuen Jesuskind.

Weit wie mit dichtem Demantstaube
bestreut, erscheinen Flur und Flut,
und in die Herzen, traumgemut,
steigt ein kapellenloser Glaube,
der leise seine Wunder tut.

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh thuốc nước của © Emil Nolde (1867-1954): Họa sĩ Biểu hiện Đức.

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2019

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

Tranh của © Emil Nolde (1867-1954)

XVIII

Tôi muốn lựa tìm một diễm phúc vàng óng
nhưng rã rời vì tìm kiếm và nhớ nhung,
- Nước trắng xóa vào đồng cỏ lặng thinh,
vào những tán bồ đề, chiều đang rỏ máu.

Các cô gái dạo bước về nhà, đỏ trên yếm thắm
những bông hồng, xa xa nơi họ tắt tiếng cười...
Những ngôi sao đầu tiên quay trở lại rồi
và những giấc mơ, làm cho buồn thế.

XXIV

Trước mặt tôi một biển dâng vách đá
Những lùm cây, nửa chìm đống lở long
Nín thinh cái chết – Ngợp choáng sương dâng
Bầu trời vắt phủ qua trên đó.

Chỉ một cánh bướm vút qua mờ tỏ
không ngừng qua miền đất ốm, đơn côi
lạc lõng như một ý nghĩ của Chúa Trời
đi qua ngực của người báng bổ.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ gồm 28 khổ thơ đánh theo số La mã

Träumen

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

XVIII

MÖCHTE mir ein blondes Glück erkiesen;
doch vom Sehnen bin ich müd und Suchen. –
Weisse Wasser gehn in stillen Wiesen,
und der Abend blutet in die Buchen.

Mädchen wandern heimwärts. Rot im Mieder
Rosen; ferneher verklingt ihr Lachen ...
Und die ersten Sterne kommen wieder
und die Träume, die so traurig machen.

XXIX

VOR mir liegt ein Felsenmeer,
Sträucher, halb im Schutt versunken,
Todesschweigen. – Nebeltrunken
hangt der Himmel drüber her.

Nur ein matter Falter schwirrt
rastlos durch das Land, das kranke ...
Einsam, wie ein Gottgedanke
durch die Brust des Leugners irrt.

Chú thích của người dịch:

Rainer Maria-Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.

Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Biển động dưới bầu trời tím - Tranh thuốc nước của © Emil Nolde (1867-1954): Họa sĩ, họa sĩ Biểu hiện Đức.

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2019

Bức thư chính tay em viết

Heinrich Heine (1797-1856)

Tranh của ©Vilhelm Hammershøi


Bức thư chính tay em viết
Chẳng làm anh hoảng hốt chi
Em không muốn yêu anh nữa
Nhưng thư em dài lê thê.

Cứ như một bản thảo nhỏ
Mười hai trang mảnh, ken dầy!
Người đời không chi li thế,
Nếu như viết lời chia tay.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Der Brief, den du geschrieben ...

Heinrich Heine (1797-1856)

Der Brief, den du geschrieben,
er macht mich gar nicht bang;
du willst mich nicht mehr lieben,
aber dein Brief ist lang.

Zwölf Seiten, eng und zierlich!
Ein kleines Manuskript!
Man schreibt nicht so ausführlich,
wenn man den Abschied gibt.

(1844, „Neue Gedichte“ - Neuer Frühling XXXIV)

Chú thích của người dịch:


Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand)

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy xử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Vilhelm Hammershøi (* 15. Mai 1864 ; † 13. Februar 1916 ): Họa sĩ người vùng Copenhagen, đại diện của phái Tượng trưng, sau những triển lãm lớn tại Pháp và Mỹ, được phát hiện lại ở những năm 90 của thế kỷ trước như một Jan Vermeer của Đan Mạch.

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2019

Khi nàng ôm tôi

Heinrich Heine (1797-1856)

Tranh © Léon-François Comerre

Khi nàng ôm và dịu dàng xiết chặt,
Là hồn tôi bay thẳng về trời!
Tôi để linh hồn bay, và lúc đó
Hút của nàng mật ngọt trên môi.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức


Als Sie mich umschlang
 
Als Sie mich umschlang mit zärtlichem Pressen,
Da ist meine Seele gen Himmel geflogen!
Ich ließ sie fliegen, und hab unterdessen
Den Nektar von Ihren Lippen gesogen.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

Tranh của Léon-François Comerre (1850-1916): Người Pháp, họa sĩ kinh viện phái Tượng trưng.

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2019

Em cười mỉm điều chi, quá muộn

Heinrich Heine (1797 - 1856)  
  
Tranh © Jean-Baptiste Camille Corot

Em cười mỉm điều chi, quá muộn,
Quá muộn rồi, điều em thở than!
Những cảm xúc từ lâu đã chết,
Xưa em từng dè bỉu dã man.

Đến quá muộn tình em đáp lại!
Mọi ánh nhìn tình tứ nóng sôi
Của em, xuống tim anh rơi rụng,
Như nắng soi xuống nấm mộ thôi.

Anh chỉ muốn biết: nếu ta chết
Rồi đi đâu, hồn của đôi ta?
Ở nơi đâu, lửa đã tàn lụi?
Ngọn gió đâu, từng đã cuốn qua?

©®Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức (Neue Gedichte - Những bài thơ mới)


Es kommt zu spät, was du mir lächelst
 
Heinrich Heine (1797 - 1856)

V.

Es kommt zu spät, was du mir lächelst,
Was du mir seufzest, kommt zu spät!
Längst sind gestorben die Gefühle,
Die du so grausam einst verschmäht.

Zu spät kommt deine Gegenliebe!
Es fallen auf mein Herz herab
All deine heißen Liebesblicke,
Wie Sonnenstrahlen auf ein Grab.

Nur wissen möcht ich: wenn wir sterben,
Wohin dann unsre Seele geht?
Wo ist das Feuer, das erloschen?
Wo ist der Wind, der schon verweht?

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:

„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand)

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:

"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.“

Tranh của Jean-Baptiste Camille Corot (1796-1875): Họa sĩ phong cảnh Pháp, nổi tiếng với loạt tranh vẽ chân dung phái đẹp.

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2019

Dọc theo

Georg Trakl (1887 - 1914) 

Tranh của© Karl-Schmidt Rottluff

Lúa mạch và đồng nho đã gặt,
Xóm nhỏ trong yên tĩnh, thu không.
Búa và đe vang lên hối hả,
Tiếng cười vang dưới tán tím hồng.

Hãy mang tới bé em đồ trắng
Cúc cánh mối từ hàng dậu đen.
Hãy nói, từ bao lâu ta chết
Mặt trời cam đen tối hiện lên.

Trong ao, con cá nhỏ màu đỏ
Dô trán lo sợ lắng nghe xem;
Gió đêm lặng rì rào cửa sổ,
Đàn organ rền rĩ màu lam.

Sao trời và lửa tia lẩn quất
Lại một lần trông thấy trên cao.
Mẹ hiện trong u ám, đớn đau
Cỏ mộc tê đen trong tăm tối.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Entlang

Georg Trakl (1887 - 1914)

Geschnitten sind Korn und Traube,
Der Weiler in Herbst und Ruh.
Hammer und Amboß klingt immerzu,
Lachen in purpurner Laube.

Astern von dunklen Zäunen
Bring dem weißen Kind.
Sag wie lang wir gestorben sind;
Sonne will schwarz erscheinen.

Rotes Fischlein im Weiher;
Stirn, die sich fürchtig belauscht;
Abendwind leise ans Fenster rauscht,
Blaues Orgelgeleier.

Stern und heimlich Gefunkel
Läßt noch einmal aufschaun.
Erscheinung der Mutter in Schmerz und Graun;
Schwarze Reseden im Dunkel.

Chú thích của người dịch:

Georg Trakl (1887 - 1914): Người Áo, nhà thơ nổi tiếng của Chủ nghĩa Biểu hiện Đức, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Tượng trưng, được coi là nhà thơ viết bằng tiếng Đức xuất sắc nhất cùng với Rainer Maria Rilke ở đầu thế kỷ 20.
Tòan bộ thi phẩm của ông mang dấu ấn của hòai cảm, u sầu và hướng tìm Thiên Chúa. Có thể kể Cái chết, Suy đồi và sự Suy tàn của Tây Phương như những hàm ý chính ở thơ trữ tình sâu xa của Georg Trakl đầy những biểu tượng và ẩn dụ.
„ Hồ như không thể định vị tác phẩm thơ của ông một cách rõ rệt theo lịch sử văn học nội trong văn chương của thế kỷ 20“ (Wikipedia).

Đôi nét tiểu sử: Georg Trakl, con thứ năm trong gia đình tư sản khá giả có bảy con. Cha có cửa hàng khóa, mẹ khó tính với các con, nghiện ma túy. Georg Trakl trải qua thời niên thiếu tại Salzburg* 1897 – 1905 Học xong trung học, được coi là học trò kém (ở các môn tiếng Latinh, Hy Lạp và Tóan), không đỗ tú tài * 1908 Qua kỳ Thực tập, để nghiên cứu 4 học kỳ ngành dược* 1910 Học xong bằng y sĩ * Khi thế chiến I bùng nổ, ông tham gia mặt trận với chức vụ y sĩ quân đội. * Ngày thêm trầm cảm, trải qua trận đánh vùng Grodek ông bị suy sụp thần kinh. *1914 Chết (tự sát) trong một nhà thương quân đội ở Krakow sau khi dùng cocaine quá liều.

Tranh của Karl-Schmidt Rottluff (1884-1976): Họa sĩ nhà đồ họa, điêu khắc, đại diện quan trọng của Chủ nghĩa Biểu hiện Đức.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...