Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2022

Dịch hạch. Một phóng tưởng

Alexander Košenina    




Không chỉ là nhà thơ, Schiller còn là thầy thuốc. Năm 1782 ông viết một bài thơ về sương mù độc, những thành phố chết và dịch bệnh thử thách nghiêm trọng sự lạc quan của con người.

Ở châu Âu, sau một đợt bùng phát cuối cùng tại Marseille vào năm 1720 những trận dịch tễ bệnh lớn của thời trung cổ đã xa tắp lui vào dĩ vãng. Nếu như trong cuốn „Hợp tuyển về năm 1782“ Schiller đưa ra một phóng tưởng cũng dưới tiêu đề này, thì phóng tác đó hẳn không chỉ đơn thuần dành cho bệnh trạng. Chàng trẻ tốt nghiệp y khoa tại trường Cao đẳng Karl hơn thế nữa đã sử dụng khái niệm la tinh „pestis“ theo đúng nghĩa của dịch bệnh. Đằng nào thì sát ngay trước đó, song song với bài luận hướng trọng tâm vào tâm thái „ Thử nghiên cứu về mối tương tác giữa thể trạng mang tính thú vật của con người với thể trạng tinh thần của nó“, chàng đã phải nộp một bài luyện tập bằng tiếng la tinh về chứng sốt gây ra hư hoại và thối rữa trong tinh thần của thuyết dịch toan truyền thống kể từ thời Aelius Galenus (1). Với cái triệu chứng febrium inflammatoriarum et putridarum (sốt do ung hoại và viêm nhiễm) cũng kèm theo những bệnh tật lây lan dịch hạch, hẳn chàng đã am tường bệnh dịch này theo trình độ hiểu biết của thời đó.

Để biểu đạt „ dịch bệnh quét càn“ như một bóng ma khủng khiếp đe dọa, Schiller đã tìm đến những hình ảnh và ngôn từ mạnh mẽ nhất. Dịch hạch, những vi trùng nhỏ li ti dạo đó còn chưa được biết đến, một cách man rợ len lỏi bò qua „đêm huyệt mộ“. Với cung cách đó chúng tựa chứng sốt phát ban, thứ cần phải được nghiên cứu tường tận hơn trong luận án tiến sĩ. Tâm lý học về nỗi sợ hãi mới đầu chỉ ra những hậu quả thể chất như tim đập thình thình, co giật đau đớn, cười phá rùng rợn điên loạn. Sau khi nhiễm bệnh rồi mới yếu sức và hao mòn, những người ốm „ hốc hác, nhợt nhạt và thất thần“ chen nhau vào vương quốc u ám của thần chết.

Sương độc quanh những thành phố chết tận.

Trong y lý về sự cân bằng thể dịch cổ đại người ta đã đổ cho những hơi sương tụ độc, những thứ gọi là sơn lam chướng khí lơ lửng trong không trung gây ra lây lan dịch họa. Tương ứng với điều đó, „sương mù độc“ trong bài thơ ắt gây ra những „thành phố chết tận“. Điều này có thể tạo ra cớ hoảng loạn được Schiller - nhà hùng biện thường hay cường điệu – gói ghém vào những „tiếng rú rền rung“. Kẻ chối bỏ Chúa Franz Moor (2) đã từng cho rằng mình cảm nhận được „âm ba rung rền lảnh lói“ của địa ngục, khi người này vào màn kết của „Những tên cướp“ , bị những giấc mơ tận thế đuổi xua vào điên loạn, đã giằng lấy dây mũ và thắt cổ chết. Như tấn bi kịch, bài thơ cũng đặt ra câu hỏi về đức tin trong bối cảnh của khủng hoảng. Kể từ cuộc động đất xảy ra tại Lissabon – thủ đô của Bồ Đào Nha năm 1755, trong nhiều văn bản, như trong bài thơ truyền giảng (3) của Voltaire „ Về tai họa của Lissabon“ hay trong tác phẩm Candile của ông cụ thể xoay quanh thuyết biện thần, nghĩa là sự biện hộ bằng Thượng đế trước bối cảnh những tai họa lớn. Câu trả lời của Leibnitz(4) là, sự tệ hại là cần thiết, nếu không thì một Thượng đế toàn năng, toàn thấu và toàn tâm đã có thể tránh chúng ra. Chính bởi thế đó là thế giới tốt nhất trong của mọi thế có thể. Với Schiller sự lạc quan này và sự toàn năng của Thượng đế đã được đem ra làm đá thử vàng: Dịch hạch (khách thể) trong những câu thơ đầu và cuối „tung hô“ ,một cách ghê rợn, reo hò và gầm thét khoái chí cái sức mạnh kia của Chúa Trời (chủ thể) tựa như là một sự thách thức độc địa.

Kết thúc vở „Âm mưu và Tình yêu“, khi Ferdinand đánh mất niềm tin vào Luise của mình và đánh thuốc độc cho nàng chết, chính chàng ta cũng trở nên báng bổ thánh thần như vậy: „ nhưng nếu dịch bệnh tác oai tác quái cả với thiên thần, thì như thế người ta phải kêu buồn thấu qua khắp tự nhiên“. Hiển nhiên vào năm 1782 con người ta không dễ gì có thể tuân thủ phương châm „ Hãy tin Ngài“ được Ewald von Kleist (5) một thế hệ trước đó đã đề ra trong bài Tụng thi của mình ngợi ca tầm vóc Chúa Trời bất chấp lũ lụt, chiến tranh và dịch hạch. Schiller, người bác sĩ hơn thế nữa biết được, với niềm tin thuần túy vào Thánh Chúa không thể nào khuất phục được dịch dã tai ương.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Dịch hạch. Một phóng tưởng

Friedrich von Schiller (1759-1805)

Dịch bệnh quét càn tung hô sức mạnh
Của Thượng đế, nghẹt thở kinh hoàng.
Chúng cùng bầy anh em gớm guốc,
Lách qua lũng đêm của mộ huyệt tan hoang.

Thộp lấy con tim đập thình thịch sợ hãi,
Sợi gân đơ nhói buốt giật đùng đùng,
Điên loạn rợn ghê cười vào rên sợ,
Đau đớn rót đầy tiếng rú rền rung.

Sự hối hả lồng lộn trên giường bệnh -
Sương độc ùn quanh những thành phố chết dần
Con người hốc hác nhợt nhạt và thất thần
Chen chúc nhau vào cái vương quốc ảm đạm.
Thần chết nằm ấp trên những làn gió ám
Thu vén của nả trong những hầm mồ chen.

Cuộc lễ hội ăn mừng của dịch hạch
Sự câm lặng xác chết – im ắng bãi tha ma,
Xen lẫn vào tiếng khoái trá gào la
Dịch bệnh kinh hoàng tung hô Thượng đế.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức 

Die Pest. Eine Fantasie

Friedrich von Schiller (1759-1805)

Gräßlich preisen Gottes Kraft
Pestilenzen würgende Seuchen,
Die mit der grausen Brüderschaft
Durchs öde Tal der Grabnacht schleichen.

Bang ergreifts das klopfende Herz,
Gichtrisch zuckt die starre Sehne,
Gräßlich lacht der Wahnsinn in das Angstgestöhne,
In heulende Triller ergeußt sich der Schmerz.

Raserei wälzt tobend sich im Bette –
Gift’ger Nebel wallt um ausgestorbne Städte
Menschen – hager – hohl und bleich –
Wimmeln in das finstre Reich.
Brütend liegt der Tod auf dumpfen Lüften,
Häuft sich Schätze in gestopften Grüften

Pestilenz sein Jubelfest.
Leichenschweigen – Kirchhofstille
Wechseln mit dem Lustgebrülle,
Schröcklich preiset Gott die Pest.

Chú thích của người dịch:

Johann Christoph Friedrich von Schiller (1759-1805): Thi hào Đức, kịch tác gia, nhà triết học và nhà sử học.

Alexander Košenina (sinh năm 1963): Nhà ngữ văn Đức và nhà phê bình văn học.

(1) Aelius Galenus: Bác sĩ và nhà giải phẫu Hy Lạp sống ở thế kỷ 2. Lý thuyết của ông gây ảnh hưởng bao trùm lên y học châu Âu tới thế kỷ 17.

Thuyết thể dịch (Humorism) là học thuyết về cấu tạo và hoạt động của cơ thể con người được phát triển bởi các thầy thuốc cũng như các triết gia Hy Lạp và La Mã cổ đại. Thuyết này được nâng lên một tầm cao mới cả về lý luận lẫn thực hành nhờ công của Hippocrates. Học thuyết này phát huy tác dụng đến tận thế kỷ 19.

Theo thuyết này thì cơ thể con người được cấu thành bởi bốn chất cơ bản, gọi là thể dịch. Cân bằng của bốn chất này là điều kiện cơ bản để con người khỏe mạnh. Bệnh tật là hậu quả của một tình trạng quá thừa thãi hay thiếu hụt của ít nhất một trong bốn chất này. Bốn thể dịch là: máu, mật đen, mật vàng và niêm dịch—tương ứng với bốn nguyên tố cơ bản cấu thành vũ trụ là không khí, đất, lửa và nước. Các thể dịch này tùy theo thời gian, chế độ dinh dưỡng và hoạt động mà tăng giảm khác nhau chứ không ở trong một trạng thái tĩnh. Khi một người có quá nhiều một loại dịch nào đó thì nhân cách, thậm chí sức khỏe, của người này sẽ bị ảnh hưởng (Wikipedia).
(2) Franz Moor: Nhân vật trong vở kịch Những tên cướp của Friedrich Schiller.
(3) Lehrgedicht: Thể thơ truyền giảng về một sự vật, đề tài.
(4) Gottfried Wilhelm Leibniz (1646-1716): Triết gia, luật gia, nhà toán học, sử học người Đức.
(5) Ewald Christian von Kleist (1715-1759): Nhà thơ Đức.

Tranh của Salvador Dalí (1904-1989): Họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà văn người Tây Ban Nha, nghệ sĩ quan trọng của thế kỷ 20.

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2022

Bề rộng và bề sâu

Friedrich von Schiller (1759-1805)   




Nhiều kẻ trên đời nở mày nở mặt,
Họ biết phát ngôn về mọi thứ trên đời,
Đâu có gì hay, thứ chi hợp lòng người,
Có thể đến hỏi họ là ra; thiên hạ
Nghe họ đang huyên thuyên ồn ã,
Tưởng họ như vừa đoạt được vị hôn thê.

Mà thế, hết sức lặng lẽ, họ đi khỏi thế giới này
Cuộc đời họ trắng tay;
Ai muốn làm nên chút gì xuất chúng,
Hẳn muốn sinh ra cái lớn lao,
Không biết mệt và lặng im thu thập
Sức lớn nhất trong điểm nhỏ nhất.

Gốc cội vươn lên tới tầng không
Với những cành óng ả rợp bông
Lá óng ánh và ngạt ngào hương tỏa
Tuy thế chúng không thể thai nghén quả;
Cái hạt một mình trong khoảnh chật chội thay
Ẩn giấu niềm kiêu hãnh của rừng: cái cây.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức 

Breite und Tiefe

Friedrich von Schiller (1759-1805)

Es glänzen viele in der Welt,
Sie wissen von allem zu sagen,
Und wo was reizet und wo was gefällt,
Man kann es bei ihnen erfragen;
Man dächte, hört man sie reden laut,
Sie hätten wirklich erobert die Braut.

Doch gehn sie aus der Welt ganz still,
Ihr Leben war verloren;
Wer etwas Treffliches leisten will,
Hätt gern was Großes geboren,
Der sammle still und unerschlafft
Im kleinsten Punkte die höchste Kraft.

Der Stamm erhebt sich in die Luft
Mit üppig prangenden Zweigen,
Die Blätter glänzen und hauchen Duft,
Doch können sie Früchte nicht zeugen;
Der Kern allein im schmalen Raum
Verbirgt den Stolz des Waldes, den Baum.

1798

Chú thích của người dịch:


Johann Christoph Friedrich von Schiller (1759-1805): Thi hào Đức, kịch tác gia, nhà triết học và nhà sử học.

Tranh của Caspar David Friedrich (1774-1840): Họa sĩ Đức thời Tiền Lãng mạn.

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2022

Trò chơi hạt cườm pha lê

Hermann Hesse (1877-1962)  




Âm nhạc của vũ trụ và của những bậc thầy
Ta sẵn lắng nghe trong niềm kính trọng,
Gọi lên những tinh thần ngưỡng vọng
Của thời vàng son, để thuần túy ăn mừng.

Chúng ta để mình vươn lên từ bí mật
Của mật tự kỳ ảo, trong màu nhiệm thần linh
Cái vô bờ, cái ào ạt, sự tồn sinh
Cô đọng lại thành dụ ngôn sáng tỏ.

Chúng vang tiếng pha lê như các chùm tinh tú
Trong sự phục vụ thành ý nghĩa cuộc đời
Từ vòng tuần hoàn không ai có thể rơi
Chỉ hướng ngã về trung tâm thần thánh.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức 

Das Glasperlenspiel

Hermann Hesse (1877-1962)

Musik des Weltalls und Musik der Meister
Sind wir bereit in Ehrfurcht anzuhören,
Zu reiner Feier die verehrten Geister
Begnadeter Zeiten zu beschwören.

Wir lassen vom Geheimnis uns erheben
Der magischen Formelschrift, in deren Bann
Das Uferlose, Stürmende, das Leben
Zu klaren Gleichnissen gerann.

Sternbildern gleich ertönen sie kristallen,
In ihrem Dienst ward unserm Leben Sinn,
Und keiner kann aus ihren Kreisen fallen
Als nach der heiligen Mitte hin.

Chú thích của người dịch:

Hermann Hesse: (Hermann Karl Hesse, cũng dưới bút danh Emil Sinclair, 1877 - † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói thảo nguyên) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.

Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.

Tác phẩm:
Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ
Văn xuôi:
- Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết, Tuổi trẻ và cô đơn, Vũ Đình Lưu dịch.
- Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết.
- Tuổi trẻ băn khoăn (Demian, 1917), truyện dài, Hoài Khanh dịch.
- Siddhartha (1920), tiểu thuyết được Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch dưới tiêu đề Câu chuyện dòng sông.
- Sói thảo nguyên (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.
- Đôi bạn chân tình (Narziss und Goldmund), Vũ Đình Lưu dịch.
- Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết.
- Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.

Tranh của Friedensreich Hundertwasser (1928-2000): Họa sĩ, kiến trúc sư người Áo, nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2022

Lừa bầu cử

Heinrich Heine (1797-1856)  




Tự do, ấy cuối cùng người ta chán,
Và nước cộng hòa của súc vật đây
Ý nguyện mong: duy một thái tử
Cai trị dân tuyệt đối chẳng chùn tay.

Thú từng loài quây quần họp lại,
Những phiếu bầu đã được viết ra;
Chứng nghiện đảng hoành hành đáng sợ,
Chúng tiến hành trò xúc xiểm, gièm pha.

Ủy ban của lừa đã được thống trị
Bởi những bô lão dài tai quen;
Họ đeo trên đầu một cái phù hiệu
Phù hiệu trang điểm đỏ - vàng – đen.

Chỉ có một cái đảng ngựa bé nhỏ
Chúng không dám bỏ phiếu thế mà;
Chúng hoảng sợ trước tiếng kêu la
Của bậc bô lão dài tai, đang cau có.

Khi một kẻ dùng cây quyền trượng
Gợi ý cho tuấn mã ứng cử, tuy nhiên;
Một lão thành dài tai cắt ngang liền
Và quát: Mày là thằng phản bội!

Mi là thằng phản bội, không hề một
Giọt máu lừa chảy ở trong mi;
Mi không phải lừa, khá tin ta đi
Đẻ ra mi là một ngựa cái lai ngoại.

Mi xuất thân giống ngựa vằn có thể
Da của mi kẻ sọc rằn ri,
Cái giọng mi khẹt mũi be be
Khá nghe như Ai cập - Do thái.

Và mi không là thằng xứ ngoại, mà chỉ
Là con lừa của lý trí, một gã lạnh tờ
Mà không biết đến chiều sâu của bản tính lừa
Không đến tai mi tiếng đàn huyền của nó.

Nhưng ta dìm cả tâm hồn xuống đó
Ngập trong khúc í a ngọt ngào;
Ta là một con lừa, ở đuôi ta đó
Là một con lừa trong mỗi lông mao.

Ta không phải người Roma, không là người Slav;
Một con lừa xứ Đức chính là ta;
Như các bậc phụ huynh, họ xưa ngoan đạo
Như cây cỏ sinh sôi, ý vị thực là.

Họ không bằng lễ phép hào hoa
Chơi những trò nghiệp nặng bắng nhắng;
Hàng ngày đi nước kiệu ngoan – ba chân - bốn cẳng,
Bao tải trên lưng cõng tới tận cối xay.

Những tổ phụ ta không chết! Trong mộ
Còn nằm nguyên chỉ da của họ thôi
Những vỏ bọc chết. Từ đó trên trời
Họ nhìn xuống chúng ta đầy mãn nguyện.

Lừa viên mãn trong thiều quang ánh chiếu!
Chúng ta muốn sánh cho bằng các vị đây;
Không bao giờ trượt khỏi đường trách nhiệm,
Dẫu tẻo teo chỉ một đốt tay.

Ôi sung sướng nào hơn làm một con lừa
Một cháu của những bậc tai dài thế
Từ các mái nhà ta muốn hét cho toàn thể:
Ta sinh ra là một con lừa.

Lừa bố lớn, sản sinh ra ta đó
Đã xuất thân từ giống Giéc manh;
Thân mẫu ta đã nuôi kẻ sơ sinh,
Mẹ cho ta bú sữa lừa xứ Đức.

Ta là một con lừa, và ta muốn
Như cha ta và các bậc lão thành,
Kiên định trò lừa, đáng yêu cổ kính,
Mãi giữ gìn tố chất lừa trâm anh.

Bởi ta là lừa, ta khuyên các vị
Hãy bầu một lừa lên ngự ngai vua;
Chúng ta gây dựng vương quốc lừa vĩ đại
Nơi lệnh ban ra chỉ do lừa.

Thảy chúng ta là lừa! Í a í ọ!
Không là đầy tớ cho ngựa, biết chưa;
Tuấn mã bay cút đi! Muôn năm sống mãi
Nhà vua của giòng tộc nhà lừa.

Người yêu nước nói vậy. Trong sảnh
Những con lừa la ó hoan nghênh;
Tất cả chúng đều mang dân tộc tính,
Và dậm chân cành cạch móng đinh.

Chúng đã trang trí bục của diễn giả
Bằng vòng hoa lá kết của cây sồi.
Lừa thầm lặng cám ơn, và hớn hở
Nó vẫy phe phẩy nhẹ cái đuôi.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức 

Die Wahl-Esel

Heinrich Heine (1797-1856)

Die Freiheit hat man satt am End,
Und die Republik der Tiere
Begehrte, daß ein einzger Regent
Sie absolut regiere.

Jedwede Tiergattung versammelte sich,
Wahlzettel wurden geschrieben;
Parteisucht wütete fürchterlich,
Intrigen wurden getrieben.

Das Komitee der Esel ward
Von Alt-Langohren regieret;
Sie hatten die Köpfe mit einer Kokard,
Die schwarz-rot-gold, verzieret.

Es gab eine kleine Pferdepartei,
Doch wagte sie nicht zu stimmen;
Sie hatte Angst vor dem Geschrei
Der Alt-Langohren, der grimmen.

Als einer jedocn die Kandidatur
Des Rosses empfahl, mit Zeter
Ein Alt-Langohr in die Rede ihm fuhr,
Und schrie: Du bist ein Verräter!

Du bist ein Verräter, es fließt in dir
Kein Tropfen vom Eselsblute;
Du bist kein Esel, ich glaube schier,
Dich warf eine welsche Stute.

Du stammst vom Zebra vielleicht, die Haut
Sie ist gestreift zebräisch;
Auch deiner Stimme näselnder Laut
Klingt ziemlich ägyptisch-hebräisch.

Und wärst du kein Fremdling, so bist du doch nur
Verstandesesel, ein kalter;
Du kennst nicht die Tiefen der Eselsnatur,
Dir klingt nicht ihr mystischer Psalter.

Ich aber versenkte die Seele ganz
In jenes süße Gedösel;
Ich bin ein Esel, in meinem Schwanz
Ist jedes Haar ein Esel.

Ich bin kein Römling, ich bin kein Slav;
Ein deutscher Esel bin ich,
Gleich meinen Vätern. Sie waren so brav,
So pflanzenwüchsig, so sinnig.

Sie spielten nicht mit Galanterei
Frivole Lasterspiele;
Sie trabten täglich, frisch-fromm-fröhlich-frei,
Mit ihren Säcken zur Mühle.

Die Väter sind nicht tot! Im Grab
Nur ihre Häute liegen,
Die sterblichen Hüllen. Vom Himmel herab
Schaun sie auf uns mit Vergnügen.

Verklärte Esel im Gloria-Licht!
Wir wollen Euch immer gleichen
Und niemals von dem Pfad der Pflicht
Nur einen Fingerbreit weichen.

O welche Wonne, ein Esel zu sein!
Ein Enkel von solchen Langohren!
Ich möcht es von allen Dächern schrein:
Ich bin als ein Esel geboren.

Der große Esel, der mich erzeugt,
Er war von deutschem Stamme;
Mit deutscher Eselsmilch gesäugt
Hat mich die Mutter, die Mamme.

Ich bin ein Esel, und will getreu,
Wie meine Väter, die Alten,
An der alten, lieben Eselei,
Am Eseltume halten.

Und weil ich ein Esel, so rat ich Euch,
Den Esel zum König zu wählen;
Wir stiften das große Eselreich,
Wo nur die Esel befehlen.

Wir alle sind Esel! I-A! I-A!
Wir sind keine Pferdeknechte.
Fort mit den Rossen! Es lebe, hurra!
Der König vom Eselsgeschlechte!

So sprach der Patriot. Im Saal
Die Esel Beifall rufen.
Sie waren alle national,
Und stampften mit den Hufen.

Sie haben des Redners Haupt geschmückt
Mit einem Eichenkranze.
Er dankte stumm, und hochbeglückt
Wedelt' er mit dem Schwanze.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:
„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:
"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Franz Marc (1880-1916): Họa sĩ Đức, đại diện quan trọng của phái Biểu hiện. trong hội họa.

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2022

Đêm trăng

Joseph von Eichendorff (1788-1857)  
 
  


Cứ như thể bầu trời
Đã lặng thầm hôn đất,
Để trong lấp lánh hoa
Đất mơ trời ngây ngất.

Lướt qua những cánh đồng
Gió nhẹ lay bông lúa
Rừng se sẽ xạc xào
Đêm trong vắt muôn sao.

Và linh hồn tôi mở
Căng đôi cánh rộng ra,
Lướt trên đất yên tĩnh
Như thể bay về nhà.

©® Nguyễn Quang Thọ và Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Mondnacht

Joseph von Eichendorff (1788-1857)

Es war, als hätt der Himmel
Die Erde still geküßt,
Daß sie im Blütenschimmer
Von ihm nun träumen müßt.

Die Luft ging durch die Felder,
Die Ähren wogten sacht,
Es rauschten leis die Wälder
So sternklar war die Nacht.

Und meine Seele spannte
Weit ihre Flügel aus,
Flog durch die stillen Lande,
Als flöge sie nach Haus.

Về tác giả:

Joseph von Eichendorff (1788-1857): Nhà thơ và nhà văn quan trọng của trào Lãng mạn Đức.

Tranh của Carl Spitzweg (1808 - 1885): Họa sĩ có vị trí biệt lập trong hội họa Đức.

Thứ Tư, 2 tháng 3, 2022

Cẩm tú cầu xanh

Rainer Maria Rilke (1875-1926)   



Như màu diệp cuối cùng trong những hộp
màu đựng trang sức, những lá đây khô, ráp, nẫu già
đằng sau những đóa bông không chịu khoác
trên mình một màu xanh dương, chỉ phản chiếu từ xa.

Chúng phản chiếu màu lá xanh nhợt nhòa và ráo lệ,
cơ hồ như chúng lại đánh mất, và như
trong những tờ xanh dương cũ giấy thư
có điểm sắc vàng, màu xám và màu tím;

Chút bợt màu như ở một cái yếm
của trẻ, không còn khoác nữa, với nó chẳng còn gì nữa xảy ra:
người ta cảm thấy ra sao sự ngắn ngủi của một đời bé nhỏ.

Bỗng màu xanh dương mới lạ đi thế đó
ở một trong những đóa, và ta nhìn thấy đây
một màu xanh dương nao lòng vui trước diệp lục ngất ngây.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức 

Blaue Hortensie

Rainer Maria Rilke (1875-1926)

So wie das letzte Grün in Farbentiegeln
sind diese Blätter, trocken, stumpf und rauh,
hinter den Blütendolden, die ein Blau
nicht auf sich tragen, nur von ferne spiegeln.

Sie spiegeln es verweint und ungenau,
als wollten sie es wiederum verlieren,
und wie in alten blauen Briefpapieren
ist Gelb in ihnen, Violett und Grau;

Verwaschenes wie an einer Kinderschürze,
Nichtmehrgetragenes, dem nichts mehr geschieht:
wie fühlt man eines kleinen Lebens Kürze.

Doch plötzlich scheint das Blau sich zu verneuen
in einer von den Dolden, und man sieht
ein rührend Blaues sich vor Grünem freuen.

Chú thích của người dịch:
Rainer Maria Rilke (1875-1926): Nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu luận và dịch giả, ông thuộc về những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức và châu Âu hiện đại.
Tiểu sử: Rainer Maria Rilke sinh ở Praha, Bohemia (thời đó là Áo-Hung, nay là Cộng hoà Séc) trong một gia đình công chức. Tuổi thơ sống ở Praha, sau đó ở München), Berlin, Paris, Thụy Sĩ. Học Văn học, Lịch sử nghệ thuật, Triết học ở Đại học Praha, Đại học München, Đại học Berlin. Những tập thơ đầu tiên, Leben und Lieder (Cuộc đời và những bài ca, 1894); Traumgekrönt (Đăng quang trong mơ, 1897)…, thể hiện những đề tài theo khuynh hướng suy đồi cuối thế kỉ 19. Sau 2 chuyến đi sang Nga (năm 1897 và 1900) Rilke gặp Lew Nikolajewitsch Tolstoi và tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Nga. Năm 1901 kết hôn với nữ điêu khắc gia, họa sĩ Clara Westhoff và sinh con gái trong năm này, sau đó chuyển sang sống ở Pháp. Thế chiến thứ nhất xảy ra, Rilke tham gia quân đội một thời gian, sau đó sống ở München, năm 1919 sang Thụy Sĩ . Năm 1921 sống ở Muzot, hoàn thành Duineser Elegien (Bi ca Duino) viết dở từ năm 1912 và viết Die Sonette an Orpheus (Sonnet gửi Orpheus). Từ năm 1923 vì lý do sức khoẻ phải sống ở khu điều dưỡng Territet bên hồ Genève. Các bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh tình, chỉ trước khi chết không lâu mới xác định ra đó là bệnh máu trắng. Rilke qua đời ngày 29 tháng 12 năm 1926 tại dưỡng viện Val-Mont. Nhà thơ tự chọn cho mình câu thơ yêu thích khắc trên bia mộ: Rose, oh reiner Widerspruch, Lust, Niemandes Schlaf zu sein unter soviel Lidern. (Dịch: Bông hồng, ôi mâu thuẫn tinh khiết, thích thú là giấc ngủ không của riêng ai dưới bao hàng mi).

Tranh của Emil Nolde (1867 - 1956): Họa sĩ Biểu hiện Đức.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...