Thứ Ba, 27 tháng 9, 2016

Như anh...

Heinrich Heine (1797-1856)   

  
Tranh © Sinaida J. Serebrjakowa


Như anh rên rẩm, cười và ấp ủ 

Như anh đang quay cuồng mệt lử
Như anh không yêu được lấy mình
Mà tuy nhiên cảm thấy ghen tình

Thì bông hồng rực đỏ thơm ngát
Anh không muốn hôn và ngửi hoa
Không! Anh hít hà ở những gai sắc
Cho đến khi mũi rách toác ra.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Heinrich Heine (1797-1856)

Wie du knurrst und lachst und brütest,
Wie du dich verdrießlich windest,
Wenn du ohne selbst zu lieben
Dennoch Eifersucht empfindest!

Nicht die duftig rote Rose
Willst du riechen oder küssen
Nein, du schnüffelst an den Dornen,
Bis die Nase dir zerrissen.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

Đầu đề bài thơ do người dịch đặt.

Tranh tự họa (Bên bàn trang điểm) của Sinaida Jewgenjewna Serebrjakowa - Зинаи́да Евге́ньевна Серебряко́ва (1884-1967): Nữ họa sĩ, đại diện của phái Ấn tượng Nga, từ 1924 bà lưu vong tại Pháp.

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2016

Bài thơ "Ba hồ cảnh ở Hellbrunn" của Georg Trakl

Gerhard Stadelmeier (1)
  
Tranh của © Paul Cézanne (1839-1906): Họa sĩ Hậu n tượng Pháp

Ma quỉ ướt đầm trêu ngươi ngoi lên từ quá khứ: bài thơ này được miệt mài gọt giũa trong 5 năm trời, kể về cuộc chiến với đời của một nhà thơ trẻ, trong âm hưởng vượt qua sống còn. (FAZ)

Năm năm ròng, từ 1909 tới 1914, người đàn ông trẻ luôn luôn rời khỏi thành phố, như thể ông muốn tóm cái lâu đài và ngọn đồi, hồ, ao, những cây trắc bá và những tượng thần cùng với những màu sắc và thanh âm như một lớp da thắm sắc cuộc đời trùm lên thân thể vậy. Cho tới gần lúc chết, chiều chiều từ Salzburg ông thường đến đấy, – khi đó vừa mới 27 tuổi và sau trận đánh Grodek rùng rợn vượt quá sức chịu đựng, ông đã tự sát bằng cocain quá liều. Quả tình ông nghiện Hellbrunn nơi xưa kia vị Giám mục vương quyền Marcus Sitticus đã xây nên ngôi nhà lạc thú mang kiến trúc barock với những bồn phun nước, hang động, những lối đi bí hiểm, những hồ cảnh thanh tao, những bức tượng tráng lệ. Bỗng chốc từ những ống dẫn và bơm nước lẩn khuất, từ những cái miệng há ra vì sung sướng của thánh thần và tiên cá bất chợt nảy những cú hắt và dội vào người khách viếng thăm. Những con ma ướt nhèm trêu chọc. Hiện lên từ quá khứ.

Trong góc đẹp nhất, bên một bức tường ngoài phía ao cảnh chính điện, của tòa Nhạc lâu, ngày hôm nay trên một tấm bảng lớn, người ta có thể đọc truy tầm lại lớp da của âm thanh và màu sắc cấu tạo ra sao khiến người đàn ông trẻ, một thi sĩ lớn (có lẽ nhà thơ lớn nhất và giàu kết quả gây ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20) đã từng mơ tưởng tới. Và ra sao khi tấm da diệu kỳ này đàn hồi và trải rộng, cho tới khi nó vừa với cái Tôi trữ tình, ở đây nhưng mà cũng như ở trong tất cả các bài thơ của ông không bao giờ nói „Tôi“ cả. Và cũng hoàn toàn không nhất thiết phải làm điều đó. Bởi vì người đọc, bị quyến rũ ngay lập tức, cảm nhận nhà thi sĩ này là cái Tôi cuồng điên và nhẫn nhục nhất, cảm thông nhất và được tìm tới nhiều nhất trong thế kỷ của những đám người ích kỷ.

Bộ tranh tam bản của cách nhìn màu

Mới 22 tuổi đầu hoàn toàn đương trẻ, cậu con trai gia đình tư sản theo đạo Tin Lành vùng Salzburg, vốn học trò tú tài dang dở và dược sĩ học nghề, được Karl Kraus (2), Alfred Loos (3) và Oskar Kokoschka (4) khích lệ trở thành một thi sĩ, trong bản viết đầu tiên đã để cho một trong ba hồ cảnh ở Hellbrunn bừng lên trong ánh sáng ghê tởm của một Rimbaud (5) và Verlaine (6): „ Quanh những bông hoa lảng vảng bầy ruồi/ Quanh hoa nhợt trên làn sóng gối/ Đi đi! Đi đi! Bầu không khí cháy/ Trong thẳm sâu của thối rữa cháy bùng“. Và trên „mặt nước réo sôi hơi oi ả“, một địa điểm dành „cho hang ổ những con cóc đen kinh tởm“. Nhưng ngược lại ông xưng tụng hồ cảnh thứ hai trong âm hưởng tụng thi của Hölderlin (7): „ Cái xa trở nên gần gụi! Ôi vầng dương, mi, người phấn chấn/Trời mây hoa và những con người/ Hãy hít thở đi bình an của Chúa Trời“. Và trong hồ thứ ba ông đã thấy sẵn „chiều sâu khôn lường“, phản chiếu trong „ ánh hồi quang của sóng/ Một gương mặt bí ẩn của con nhân sư“.

Trong bản viết mới đầu sự bộn bề của cảm nhận vẫn còn nằm trong những ngăn kéo đựng trích dẫn hơi lộn xộn. Địa danh chỉ ra cho thi sĩ thấy: không có gì là cái mặt dị dạng. Như ông cũng đã gọi hồn trong bài thơ Giấc mơ của cái Ác: „Một chỗ lịm đi tối tăm và ảm đạm/ Trên đảo ban chiều dậy lên tiếng thì thào/ Đọc ám hiệu của đàn chim di trú/ Những người hủi thối rữa đêm đêm, có thể/ Trong công viên anh em nhà run rẩy nhìn nhau“. Sau 5 năm không ngừng mài giũa, những bài thơ về Hellbrun Trakl giải độc vùng đất đó. Người thi sĩ chỉ có thể chịu đựng được trong cuồng say sắc mầu khát thèm cái chết và đớn đau từ suy tàn, thối rữa, đen (thường khi), lam (thường xuyên hơn cả), nâu (rất thường xuyên), lục (hầu như luôn luôn), bạc (nếu như rắn chạm vào đanh rắn) luôn thiêu đốt ông trong trí óc, con mắt và tâm hồn, bằng các chất chloroform, morphine, cocaine, rượu, thuốc phiện và veronal, thì ở đây ông đã từ sự nhẫn nhục cảm xúc làm nên một khúc nhạc chiều vĩ đại như một bộ tam bản của cách nhìn mầu. Một bản xô-nát ban chiều. Như một cuộc vật vã giành sự sống, trong những âm hưởng vượt qua sống còn.

Trong nhịp điệu trang trọng thanh thoát vang lên tiếng đàn dây kithara chói lói ánh bạc của thần Orpheus, của vị cha đẻ ra những thần thoại cổ xưa của mọi nhạc công „thả bước tới“ (một từ dùng yêu thích của Trakl) „ ở những bức tường đen của đêm tối“, nối vào đó cơn mưa giông mùa xuân trong gió đêm, kể cả sau bước xuống dòng đã kết vần vào đó trong bè chính rung lanh tanh khí lạnh đòi láy lại. Đó mới là khúc dạo đầu. Thế thì để làm chi những giọng bè trung mảnh mai và tối màu của „những người đàn bà từ lâu đã chết“, qua chiếc hồ thứ hai, cấp cho cái ngày tan biến trong màu xanh một điểm tựa hài hòa. Những gì vang âm, tuy từ rất xa đến tới đây từ những nấm mộ, ở tiếng thầm thào của những người đàn bà trong cây sậy, nơi con chích chòe đùa cợt với họ, lại có một truyện tiếu của hiện tại: có thể mường tượng ra được giữa chừng xen vào một khúc độc tấu sáo hoặc kèn
basset horn (clarinet trầm) trong điệu thức Glissando (8) rền rĩ suốt chặng. Điều đó cho phép hiểu được là sự tiến hành. Trong khi không khí ban chiều phủ vòm lên hồ thứ ba cấp cho sự suy tàn, đang rỉ rắc thấm qua tường, một khúc apergio buồn bã ở màu xanh cung la trưởng êm đềm „khôn lường“ cộng với toàn bộ các nửa cung trắng và xanh lục. Điệp khúc đã hoàn tất như vậy. Cuối cùng chỉ còn ngự trị sự an bình sâu lắng, dẫu mang vẻ lừa mị, được kẹp chặt lại bằng những vần thơ sát sạt đến phát sợ, nơi chỉ „sóng“ trào qua „tường thành“ và „mạng che“ lại chảy tuôn chỉ vào trong „sóng“.

„Và thế đó nói lên nhiều điều, cái nói lên Trakl vậy“ – giễu nhại lại một câu thơ nổi tiếng của Hugo von Hoffmannsthal (9) mang tên “Ballade của cuộc sống bên ngoài“. Câu này ai cũng biết nguyên văn là “ Và thế đó nói lên nhiều điều, kẻ nói tới ban chiều vậy“. Dạo xưa nhà phê bình sân khấu, nhà tiểu thuyết gia, nhà viết bỉnh báo và truyện Friedrich Torberg (10) tương truyền đã phát hiện ra trong điểm sáng của nhận thức: Nơi đâu Hofmannsthal ca tụng cuộc đời, thi ca của Trakl sống ở đó. Và chết bên trong và sống với nó. Nhưng ngoài kia ở vùng Hellbrunn đã chỉ một lần cuộc đời và thơ ca của Georg Trakl trở thành một âm nhạc tuyệt vời duy nhất.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức


Ba hồ cảnh ở Hellbrunn

Georg Trakl (1887 - 1914)

Thả bước tới bên bức tường đen tối
Của ban đêm, đàn lia láy tiếp vang âm
Của Orpheus trong ao nước tối tăm
Nhưng mùa xuân nhỏ xuống trong giông tố
Từ cành nhánh trong cơn giông hoang dã
Của gió đêm, đàn lia láy tiếp vang âm
Của Orpheus trong ao nước tối tăm
Chết về cõi những bức tường xanh lá

Lâu đài và ngọn đồi xa rực chiếu
Tiếng những đàn bà - ấy những bức dệt thêu
Từ lâu đã chết, màu tối và mảnh mai
Trên mặt gương của tiên nữ, màu trắng -
Than vãn số kiếp của mình trôi lãng
Và rũa tan trong xanh lá ngày đi
Tiếng thầm thào trong ống sậy và bay về -
Một con chích chòe giỡn đùa với họ.

Giòng nước lấp loáng màu lam lục
Và những cây trắc bá thở hít êm đềm
Và sự đau buồn của chúng khôn lường
Chảy trôi vào trời xanh đêm tối
Những thần biển nhô lên từ lớp sóng
Sự suy tàn rỉ rắc thấm tường thành
Trăng che mặt trong tấm mạng lục xanh
Và chậm rãi nhởn nhơ trên sóng.

© PKĐ dịch - Juli/2016

Die drei Teiche in Hellbrunn

Georg Trakl (1887 - 1914)

Hinwandelnd an den schwarzen Mauern
Des Abends, silbern tönt die Leier
Des Orpheus fort im dunklen Weiher
Der Frühling aber tropft in Schauern
Aus dem Gezweig in wilden Schauern
Des Nachtwinds silbern tönt die Leier
Des Orpheus fort im dunklen Weiher
Hinsterbend an ergrünten Mauern.

Ferne leuchten Schloß und Hügel.
Stimmen von Frauen, die längst verstarben
Weben zärtlich und dunkelfarben
Über dem weißen nymphischen Spiegel.
Klagen ihr vergänglich Geschicke
Und der Tag zerfließt im Grünen
Flüstern im Rohr und schweben zurücke –
Eine Drossel scherzt mit ihnen.

Die Wasser schimmern grünlichblau
Und ruhig atmen die Zypressen
Und ihre Schwermut unermessen
Fließt über in das Abendblau.
Tritonen tauchen aus der Flut,
Verfall durchrieselt das Gemäuer
Der Mond hüllt sich in grüne Schleier
Und wandelt langsam auf der Flut.

Bản tiếng Anh


The Three Ponds in Hellbrunn

 
Georg Trakl (1887 - 1914)

Wandering along the black walls
Of evening, silverly the lyre
Of Orpheus sounds forth in the dark pond
But spring drips in showers
From the branches in wild showers
Of the night wind silverly the lyre
Of Orpheus sounds forth in the dark pond
Dying away at greening walls.

Far away palace and hill shine.
Voices of women, who long ago passed away,
Weave tenderly and darkly colored
Over the white nymphish mirror.
Lament their fleeting fate
And the day dissolves in the green
Whispers in the reeds and hover back -
A thrush frolics with them.

The waters shimmer greenish-blue
And calmly the cypresses breathe
And their gloom immeasurable
Flows over into the evening-blue.
Tritons emerge from the flood,
Decay trickles through the walls
The moon wraps itself in green veils
And wanders slowly on the flood.

Về tác giả: Georg Trakl (1887 - 1914): Người Áo, nhà thơ nổi tiếng của Chủ nghĩa Biểu hiện Đức, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Tượng trưng, được coi là nhà thơ viết bằng tiếng Đức xuất sắc nhất cùng với Rainer Maria Rilke ở đầu thế kỷ 20.

Tòan bộ thi phẩm của ông mang dấu ấn của hòai cảm, u sầu và hướng tìm Thiên Chúa. Có thể kể Cái chết, Suy đồi và sự Suy tàn của Tây Phương như những hàm ý chính ở thơ trữ tình sâu xa của Georg Trakl đầy những biểu tượng và ẩn dụ.

Chú thích của người dịch:

(1) Gerhard Stadelmeier (sinh năm 1950): Nhà báo, nhà phê bình sân khấu, viết feuilleton cho tờ FAZ (Frankfurter Allgemeine Zeitung).
(2) Karl Kraus (1874-1936): Nhà văn Áo, đồng thời là nhà thơ, nhà trước tác, cây bút châm biếm, cách ngôn, và cũng nổi tiếng như vậy là nhà phê bình văn học.
(3) Alfred Loos (1870-1933): Kiến trúc sư, nhà báo người Áo.
(4) Oskar Kokoschka (1886-1980): Họa sĩ, nhà văn Áo của chủ nghĩa Biểu hiện và phái Hiện đại Vienna.
(5) Jean Nicolas Arthur Rimbaud (1854-1891): Thi hào Pháp, một trong những nhà thơ gây ảnh hưởng lớn nhất.
(6) Paul Marie Verlaine (1844-1896): Nhà thơ lớn người Pháp phái Tượng trưng.
(7) Johann Christian Friedrich Hölderlin (1770-1843): Một trong những thi sĩ quan trọng nhất của văn chương Đức.
(8) Lối hát lướt, Glissando là một chuỗi note liên tiếp cách nhau nữa note trên một làn hơi.
(9) Hugo von Hoffmannsthal (1874-1929): Nhà thơ, nhà văn, kịch tác gia người Áo.
(10) Friedrich Torberg (1908-1979): Nhà văn, nhà báo nhà viết kịch bản, tự cho mình là ngưới Áo gốc Tiệp và người Do thái.

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2016

Thấy bên dòng thác

Phạm Kỳ Đăng

© Tranh Pierre Bonnard (1867 - 1947), họa sĩ Hậu Ấn tượng Pháp

Lũy cây xanh reo hằng phước
Tốt tươi. Dưới thế bình an
Thi thiên cõi tràn mơ ước
Đá vàng men kết trời lam.

Nước hồ chùng xanh áo liễu
Những thanh nữ hé môi tươi
Nâng xiêm nhón đùa dưới thác
Làn bay đồng lóa hoa cười.

Hãy buông miên man trời lộng
Gió miền nấn ná bao lâu?
Qua môi ta trong ác mộng
Thầm thì: men đá, ngày sau.

©® P.K.Đ 2016

Tranh của Pierre Bonnard (1867 - 1947), họa sĩ Hậu Ấn tượng Pháp, thành viên nhóm họa Nabis.

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

Một lần đến Alanya

Phạm Kỳ Đăng

Tranh của Osman Hamdi Bey (1842-1910)

Sau chuyến nghỉ bên bờ biển Alanya vùng nam Thổ Nhĩ Kỳ gần biên giới Syria, mình nhớ nhất chàng thanh niên khôi ngô, cười phô răng trắng đứng phục vụ đồ uống ở sảnh ăn. Còn ba bốn người nữa mới đến lượt mà thấy mình từ xa cậu ta chắp tay trước ngực và cúi đầu chào bằng tiếng Thái „sawadee khab“, xong lại rót khay cốc cho người xếp hàng. Biết mình là gia đình người Việt Nam, có lẽ không bao giờ lai vãng nơi đây, lần sau đó cậu cung kính hơn hẳn, gập người chắp tay búp sen lên ngực, chào 3, 4 lần, rồi khá bất ngờ soãi ngang hai tay làm khẩu súng trường, hô lớn „Peng! Peng !Peng“. Khách du lịch Việt lần đầu rời nhà ra đi thấy thế thì dễ bực, mình quen lại khoái cậu chàng gọi ra hồn vía đất nước quê hương rồi, còn sai gì nữa. Mình xua tay, yên bình rồi, đất nước tao không còn thế - và áp hai tay vào má nghiêng đầu ra hiệu ngủ ngon -, chỉ có bọn nhà các cậu mới „Peng peng peng“ nhau ở Istanbul. Cậu ta sáng mắt, phá lên cười.

Như vậy là hòa chứ gì, mà có dễ mình là người „thắng cuộc“.

Trên sàn rộng giáp biển đang ngồi uống bia chuyện vãn với vài gia đình Thổ Nhĩ Kỳ từ Düsseldorf qua, cậu ta ghé vào chỗ mình. Cậu lớn tiếng khâm phục người Việt Nam hào hùng vì độc lập, tự do và chủ quyền của một dân tộc. Mình không bày tỏ gì, bởi đang há hốc mồm nghe câu chuyện khác. Cái điều khiến mình sửng sốt nhất trước đối tượng đàm luận là ba bốn người Thổ Nhĩ Kỳ trẻ tuổi, sống từ bé và có công ăn việc làm hẳn hoi bên Đức (có thế thì mi dư dả chút tiền đi nghỉ dưỡng) đều đứng ra bênh ông Tổng thống Erdogan chằm chằm. Trái lại, mình dứt khoát, Erdogan đã đào huyệt chôn những thành tựu thế tục hóa và dân chủ, giđây đang lăm lăm đẩy Thổ Nhĩ Kỳ xuống đó. Nên lúc này thoạt nghe không tin vào tai họ thuyết, nào là hãy nghe chúng tôi đi, bản lĩnh là Erdogan, viễn kiến là ông ấy, chưa một vị chính khách nào ở châu Âu có tầm tư duy dân chủ như Erdogan, ông ấy những là người dân chủ nhất. Bốn năm người tranh luận khuỳnh tay khuyên tôi đừng làm nạn nhân cho ý kiến công luận phổ quát của phương Tây và Mỹ đang gây dựng và lèo lái. Phương Tây và Mỹ, như họ biện luận, chỉ muốn kìm hãm sức mạnh của đế chế Ottoman từng làm mưa làm gió từ Đông sang Tây, đã bị phương Tây trăm năm trước khuất phục sau hòa ước Sèvres.

Chắc nhiều người chưa biết, những ngày mình đang nghỉ ở đây, tổng thống tổ chức miễn vé cho dân tình đi lại tàu xe để lên Istanbul xuống đường cổ vũ ông. Cổ động viên hô hào tên ông được uống (rượu cồn chắc hẳn) miễn phí nữa. Tại Cologne (Köln) của CHLB Đức, người Thổ Nhĩ Kỳ từ mọi quốc gia tới vẫn tiếp tục biểu tình ủng hộ vị tổng thống, dù đóng vai trò Thượng phụ, Trưởng lão hay Chủ tế, Giáo chủ gì chăng nữa, theo mình cũng đang cuồng xưng hùng xưng bá. Ông ta gửi sang Đức đội quân giáo sĩ giảng giáo phù trợ ông. Và còn đòi sang cả đất nước Đức diễn thuyết trước các cuộc biểu tình tán dương. Nhà cầm quyền Đức từ chối lý do bất chính, cũng như trong thực tế bỏ qua yêu cầu của chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ, từng từ chối truy nã các nhà bất đồng chính kiến và đối thủ chính trị của ông đang nương náu, trong số đó gồm cả nhiều người bị điệp viên Thổ phái đến ám sát trên đất nước mình.

Ngạc nhiên hơn, dân cư vùng Antalya và Alanya, gần trăm phần trăm đều là những kẻ cuồng Erdogan. Họ cho rằng, với Erdogan, Thổ Nhĩ Kỳ đang vươn tới vị trí đế quốc vĩ đại xưa kia. Erdogan giúp đất nước họ giờ đây cất tiếng nói mạnh mẽ của mình trên trường quốc tế. Mỹ và Tây Phương có bực mình cũng chỉ bởi tổng thống đã đàm phán thành công xóa sổ mọi nợ nần, và khá nguy, điều này có thể thành tiền lệ cho nhiều nước khác còn vay nợ tổ chức Ngân hàng thế giới.

Nghe họ nói, nào là Thổ Nhĩ Kỳ sẽ hùng mạnh trên trục xoay cán cân quyền lực thế giới, nào là đồng Lira đang lên giá, dù không muốn kể lại đây, mình có cảm giác nhàm tai đâu đây đang nghe lại những luận cứ ói màu dân túy. Hay là ở đây cũng có Hồng Vệ Binh hay Dư Luận Viên?

Khẳng định rằng không dễ tin quan điểm phổ cập do châu Âu hay Mỹ đưa ra, mình phản bác lại họ. Chính nền truyền thông phương Tây trong khung pháp lý tạo dựng đang dung nạp và thậm chí tạo ra một đội ngũ những nhà phê bình truyền thông gay gắt đòi hỏi nhìn nhận các diễn biến sự kiện dưới nhiều giác độ. Chỉ một điểm này thôi đã tạo khác biệt so với lối hành xử của Erdogan với truyền thông và báo chí Thổ Nhĩ Kỳ. Sau cuộc đảo chính, kết luận do bàn tay thao túng của
Fethullah Gülen (v giáo sĩ đứng đầu tổ chức FETÖ đối lập, tạm gọi là Thổ Tân), ông cho bắt bớ và nhân tiện thải hồi một loạt chuyên viên, công chức, thẩm phán, ... được cho là tay chân của đối thủ chính trị, song song đó dẹp luôn nhiều nhà xuất bản, đóng cửa một loạt các tòa báo.

Lên xe ra về, mình biết rõ mình hiểu biết rất hạn chế về đất nước đứng như tường thành thép bảo hộ Âu Châu. Cũng với tư cách của người du lịch, mình chỉ mới ngắm một pháo lũy trên đỉnh non kia.

Đến Thổ Nhĩ Kỳ ba lần rồi, người vãng du là mình không thể nêu ra với người dân nước này nhiều sự thật đáng nói. Rằng đất nước mình, được ngưỡng mộ bởi tinh thần quật cường và gan dạ đã đánh đuổi ngoại xâm, qua bốn năm cuộc chiến, giờ đây lại oằn mình cõng chịu trên vai một lớp chủ nô cũng mũi tẹt da vàng từ đồng bào mình, ác độc tham tàn và ngu muội hơn những ông chủ xưa khi kích động dẹp đuổi họ kêu là thực dân, đế quốc. Hệ thống toàn trị của một đảng hơn 70 năm xây dựng lên đáng ghê tởm hơn nhiều thiết chế độc trị của Erdogan, bởi dù sao ông ta cũng được một thể thức dân chủ bầu nên, và nền nếp của dân chủ vẫn còn đó, đập phá đi được từng công đoạn bên ngoài vẫn còn lại bên trong ý thức người dân không dễ sớm một sáng chiều dỡ bỏ. Hơn nữa ông ta đại diện cho mẫu người thực dụng và ích kỷ. Thế giới, mình nghĩ, vẫn còn khả năng ứng xử với những kẻ ích kỷ trần trụi hơn bọn tham tàn dựng một giáo điều che chắn, biện hộ.

Nhìn vào một sự thật của bốn cuộc đảo chính ở đất nước Thổ Nhĩ Kỳ, vẫn nên thừa nhận một thực tế, các tướng lĩnh can dự mới đây đều tuyên bố muốn xóa sổ Erdogan vì một nền dân chủ. Nếu chính biến diễn ra khác đi mình vẫn ưu tiên họ hơn Erdogan. Và nền dân chủ của Thổ Nhĩ Kỳ, xây dựng nên trong một quá trình thế tục hóa, thực tế vốn dĩ được khai sinh ra bởi Mustafa Kemal Atatürk - một vị tướng khai quốc công thần chủ trương cải cách Thổ Nhĩ Kỳ theo mô hình các nhà nước Tây phương thời hiện đại.

Nói như thế không có nghĩa mình đánh đồng đảo chính với bạo loạn. Trong bối cảnh hiện tại, mình không chào đón bất kỳ một cuộc đảo chính tại quê nhà. Chỉ muốn thêm vài tiền đề khác để so sánh. Các bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ đảng toàn trị, hiện thời, chỉ là những xung đột phát sinh từ tranh giành quyền và tiền. Mình đâu thấy lý lẽ gì biện hộ một sự yên bình và ổn định rao giảng trên truyền thông chính thống của nhà nước toàn trị. Mình bác bỏ mọi biện hộ về sự „ổn định chính trị“, tuy thế hoàn toàn không đặt hy vọng gì vào một cuộc đảo chính tại Việt Nam. Tướng lĩnh Việt Nam, rèn giũa trong đoàn thể duy nhất cũng chỉ là quân cờ được nhấc lên nhấc xuống. Tướng tá hay lãnh đạo cao cấp điều phối họ đều từ một cái chuồng tư tưởng, ý hệ. Nếu kẻ đứng đầu một nhóm gây chính biến tức là cùng lúc họ hô hào người dân, từ nhiều thập kỷ vốn bị cách ly ngặt nghèo và miễn nhiễm với dân chủ và các giá trị đi kèm can dự vào cuộc đổ máu tranh chấp vô trách nhiệm mịt mùng vô định. Không một ai trong số họ có một nhận thức, viễn kiến và dự án chính trị vượt ra khỏi bãi xới họ đấu đá. Cung cách họ giành giật, gùn ghè nhau cho ta dự cảm cái lốt tranh giành chẳng hề mang tính „đồng chí“, chưa tận mắt đã nghe tiếng rú rít của loài linh cẩu. Những ngày qua nghe như thế súng nổ Yên Bái, mình mới biết con đường Việt Nam hiện thời đi đến một Thổ Nhĩ Kỳ đang khủng hoảng còn rất vời xa và gập ghềnh trăm nẻo.

Trên chuyến về, không phải là ăn gian hay muốn giấu nhẹm nhiều điều đâu, mình biết, với hiểu biết hạn chế về một đất nước, tranh luận vãng lai cũng đến đó mà thôi. Trên núi cao có thành lũy mình chưa hề thăm viếng. Bên bờ biển biếc màu lam ngọc còn đó rì rào cây cọ đứng vút cao với nửa vạt xém bất động như thể lặng câm.

©® P.K.Đ

Tranh của Osman Hamdi Bey (1842-1910): Họa sĩ, nhà khảo cổ người Thổ Nhĩ Kỳ.

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2016

Hàng mộ cát

Phạm Kỳ Đăng

     
Tranh của ©Paul Klee (1879-1940): Họa sĩ Đức

Đó giải bờ đen lầm cát
Bết trong lớp sóng màu hung
Xác người nhô làn tóc ghém
Tróc da. Lìa những ván săng

Thuyền chìm dưới mưa nặng hạt
Quanh lũy tối đen.
San hô, hãy thôi hồng lệ,
Rặng lìa, đỏ ứa lòng đêm

Lìa và tan trong hủy hoại
Cá, người, và những hồn ma
Quằn mình sinh tử
Sóng bầm những vết thịt da

Ùn ra tầng tầng chất tẩy
Vô sinh, xác cá dập dờn
Cùng sau bạo cuồng tiếm đoạt
Xút dâng cật vấn sống còn

Chắt chiu cát gom cây quạnh
Thập ác điêu linh
Dựng trên mộ gió
Nơi đây trơ trọi khổ hình.

©® PKĐ 2016

Tranh của Paul Klee (1879-1940): Họa sĩ, nhà đồ họa Đức. Tác phẩm tiền phong của ông được xếp vào các phái Biểu hiện, Kết dựng, Lập thể, Hoang dại và Siêu thực ( Expressionism, Konstruktivism, Kubism, Primitivism and Surrealism).

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016

Sự phân biệt Cuồng sát và Khủng bố không còn đóng vai trò gì nữa

Karin Janker
   

Tranh của ©Franz Kline (1910-1962): Họa sĩ Mỹ

Luận đề của nhà triết học Franco "Bifo" Berardi: Những thủ phạm là kẻ thất bại của hệ thống của chúng ta dựng nên.

Triết gia Franco Berardi nhìn kẻ khủng bố là những con người bản thân khổ đau và thông qua đau khổ này trở thành tội phạm. Ông nói tới một sự „tuyệt vọng Hồi giáo“.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Liên bang gọi vụ ám sát trong một con tàu chạy trên vùng Würzburg là một trường hợp „nằm trong lĩnh vực giáp ranh giữa Cuồng sát và Khủng bố“. Đối với thủ phạm Nizza cũng không rõ đây có phải là một kẻ khủng bố do IS giao trách nhiệm hay là một kẻ đơn lẻ phạm tội không mang động cơ tôn giáo và tư tưởng. Đâu là ranh giới giữa tấn công Khủng bố và Cuồng sát. Trong cuốn sách mới đây của mình tựa đề „ Những người hùng. Về giết người hàng loạt và tự sát“, ngoài ra, triết gia người Ý Franco "Bifo" Berardi chuyên tâm vào vấn đề này.

SZ: Ông Berardi, trong tiêu đề cuốn sách của mình, ông gọi những kẻ giết người bằng cách tự sát và những kẻ cuồng sát là những „anh hùng“. Phải chăng đó có phải là một sự quá đáng đối với nạn nhân và thân nhân của họ?

Franco Berardi: Tôi sử dụng danh tính „anh hùng“ không trong nghĩa ngôn từ của nó , mà là trong sự đảo lộn mang tính nghịch lý: Những người đàn ông trẻ thực hiện những hành động khủng bố như school shootings hay những dạng thức khác của cái được gọi là tự sát mở rộng, nghĩ rằng thông qua hành động của mình họ trở thành anh hùng. Trước đó họ cảm thấy mình là người thất bại và tin rằng, kết cục giờ đây họ đã ra tay thu xếp được cuộc đời.

- Đặc biệt ở những nghiên cứu của ông về giết người hàng loạt và tự sát thực sự ông đã đọc những bản tuyên ngôn và những lá thư tuyệt mệnh của những tội phạm như Breivik (1) hoặc hai kẻ nã súng ở Columbine (2) để lại. Công trình của ông phát sinh từ một sở thích đặc biệt hướng vào bọn sát nhân, đôi khi đến mức lạ lẫm.

Franco Berardi: Bản thân tôi cũng tự cảm thấy gây ra cho chính bản thân sự lạ lẫm này. Sau vụ cuồng sát ở Aurora năm 2012, nơi một người đàn ông trẻ ăn mặc giả làm người chơi bài và bắn vào khán giả xem khai mạc bộ phim Batman, tôi cũng thỏa mãn bởi cái hứng thú gây ra gần như đến mức bệnh hoạn. Như được thôi thúc, đột nhiên tôi đọc tất cả về cái tội ác đây, cũng như các tội ác tương tự. Dạo đó tôi quyết định viết cuốn sách.

- Trong cuốn sách „Những người anh hùng“ ông quan sát những vụ tấn công khủng bố và cuồng sát, tìm gốc rễ quy hai thứ này về sự rối loạn tâm lý nơi thủ phạm. Nhưng mà không có một khác biệt cơ bản giữa khủng bố Hồi giáo và school shooting: tức là động cơ tư tưởng của những kẻ khủng bố?

Franco Berardi: Sự phân biệt giữa cuồng sát và khủng bố không còn đóng vai trò gì nữa, về mặt lịch sử đã trở nên lỗi thời. Trong một cuộc khủng bố mang tính Hồi giáo chúng ta không còn dính dáng tới một hành động chính trị như vào thời kỳ khủng bố của Lữ đoàn đỏ RAF(3). Đằng sau những vụ xảy ra ở Nizza và Würzburg, ta không nhận thấy được một chiến lược về chính trị. Chính vì vậy nghiên cứu khía cạnh bệnh học tâm lý của những tội ác này quan trọng hơn. Ở đây tôi nhìn thấy nhiều điểm tương đồng giữa những kẻ cuồng sát và kẻ khủng bố.

Tức là những tương đồng nào vậy?

Franco Berardi: Trong một khoảnh khắc họ muốn được là người chiến thắng. Những thủ phạm này không phải là những kẻ giết người hàng loạt cảm thấy rung động một cách khoái trá sa- đích trước đau khổ của nạn nhân. Đó là những con người bản thân đau khổ và do sự đau khổ đã trở thành những kẻ gây tội ác. Chính vì vậy tôi nói tới một sự tuyệt vọng mang tính Hồi giáo đã xâm chiếm những người này sau trở thành kẻ khủng bố. Cái này ít dính dáng đến tôn giáo hơn là tới hậu quả của chủ nghĩa tư bản toàn cầu.

Tôi muốn hiểu cái Ác – đó là con đường thoát duy nhất khỏi địa ngục

- Mà tuy thế, sau những vụ sát hại như vừa qua xảy ra ở Würzburg và Nizza công luận và truyền thông đại chúng trong việc tìm một lời giải thích đã băn khoăn với câu hỏi: Thủ phạm có thể chăng là một tín đồ Hồi giáo cực đoan? Tại sao ông bỏ qua câu hỏi này?

Franco Berardi: Bởi vì đối với bọn mưu sát, tôn giáo chỉ đóng một vai trò ngoại biên. Mang tính quyết định hơn là bất lực, trầm uất, hoang mang – và cuối cùng sau đó, nếu như có mới đến tôn giáo nhập cuộc. Bệnh tâm lý có thể xảy ra với mỗi người. Vần đề không phải ở chỗ đóng ngáy một con dấu lên người bệnh. Là điều tôi quan tâm tới, nếu như con người đang đau khổ - và nếu như họ gây ra khổ đau. Chúng ta phải giúp đỡ những con người này, để ngăn chặn những tội ác như vậy. Chính vì lẽ đó tôi hy sinh cho người mang bệnh, tôi tìm cách đi sâu vào nỗi khổ đau của họ để nắm bắt nguyên nhân. Tôi muốn hiểu được cái Ác – đó là con đường thoát duy nhất từ địa ngục.

- Ông nhìn thấy nguyên nhân của sự khổ đau này nằm ở đâu, sự đau khổ khiến con người đi tới chỗ cầm rìu chém mọi người hoặc trên một cái chợ tại Bagdad cho nổ tung thân lên.


Franco Berardi: Một lý do có thể đọc ra từ bản di chúc của Mohammed Atta, một trong những kẻ mưu sát đánh bom World Trade Center vào năm 2001 chính là cảm giác một người thất bại.

- Nhưng mà Atta thuộc về tầng lớp trung lưu ở Ai Cập, anh ta không phải là người đứng bên lề xã hội.


Franco Berardi: Tuy nhiên thế anh ta vẫn cảm nhận thấy sự hạ nhục và sự cô lập. Trong thế giới của chúng ta ngự trị chủ nghĩa Tân Tự do, mỗi ai cũng đứng cùng với ai đó trong cuộc cạnh tranh. Ông hay bà cùng với đồng nghiệp, chúng tôi ở Tây Phương cùng với người ở phía Đông. Cái áp lực tâm lý thường xuyên này có thể gây ra bệnh tâm lý. Người ta không phải thông cảm với những người phạm tội, nhưng người ta phải nhìn thấy đó là những con quái vật, do chính chúng ta đã tạo ra.

- Trong chừng mực nào ạ?

Franco Berardi: Internet cũng có lỗi trong chuyện đó. Chúng ta sống một thời đại mà ở đó chúng ta không còn kết nối với nhau nữa, nơi mà đơn lẻ từng người kết nối với mạng. Chúng ta quạnh hiu như vậy. Giao tiếp không còn là điều kết nối, ngày hôm nay nó xảy ra ở diện rộng không có một mối tiếp xúc gì về thể chất.

- Nhưng mà ở vào thời điện thoại thì sự thể đã là thế rồi cơ mà.

Franco Berardi: Vâng, nhưng đó là một vấn đề số lượng. Ở bên máy điện thoại người ta không tiêu tốn hàng giờ đồng hồ với ảo tưởng đang kết nối với một ai đó. Người ta gọi điện ngắn, sau đó người ta gặp nhau. Ngược lại Breivik, điều đó chúng ta biết ngày hôm nay, ngồi có khi tới 16 giờ đồng hồ mỗi ngày trước màn hình. Sự lạ hóa với chính mình qua đó có thể dẫn tới những rối loạn về tâm lý.

- Lời chẩn đoán của ông liên quan đến mọi con người trên toàn thế giới, chúng ta sống trong thời đại kỹ thuật số. Theo như ông nghĩ, làm sao người ta có thể ngăn được khổ đau những người này cảm nhận và cũng tương tự đau khổ họ mang đến cho người khác.

Franco Berardi: Bằng cách chúng ta chú trọng vào những người cùng sống với chúng ta. Nói chung chúng ta không còn khả năng tập trung quan tâm tới người nào đó, cả vào bản thân cũng còn chẳng nổi. Chúng ta phải gặp gỡ con người đến từ Syria hay từ Afghanistan đi sang Đức hay sang Ý tới chúng ta bằng một sự quan tâm – và với điều đó tôi không hàm ý rằng, bằng cách để cho không chỉ phương tiện đại chúng, mà là tất cả chúng ta trong cuộc sống thường nhật tường thuật về họ. Chúng ta đã quên sự quan tâm dành cho những con người sống cùng, bởi vì chúng ta nhìn thấy mình chỉ như là kẻ cạnh tranh trong cuộc chiến giành giật sự sống.

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ bản tiếng Đức

Nguồn: Süddeutsche Zeitung

Nhà triết học và phê bình phương tiện đại chúng Franco „Bifo“ Berdardi, sinh năm 1949 tại Bologna, đã ra mắt sách và các tiểu luận về những đề tài Ngôn ngữ của chủ nghĩa Tân tự do (Cuộc khởi nghĩa. Về thơ và kinh tế tài chính). Gần đây nhất nhà xuất bản Matthes & Seitz ấn hành cuốn sách của ông „Những anh hùng. Về Giết người hàng loạt và Tự sát“, trong đó ông chuyên sâu vấn dề những kẻ giết người hàng loạt nói gì về tình cảnh xã hội chúng ta.

Karin Janker: Nữ phóng viên Süddeutsche Zeitung, bà nghiên cứu báo chí , Ngữ văn Đức, Triết học và Khoa học chính trị.

(1) Anders Behring Breivik, sinh năm 1979, khủng bố cực hữu và kẻ giết người hàng loạt người Na Uy, thù ghét Hồi giáo. Breivik gây ra vụ thảm sát ngày 22.07.2011 tại Oslo, đảo Utoya, giết 77 người dân thường.

(2) Hai học trò Eric Harris (18) und Dylan Klebold (18) trường Columbine High School tại Columbine bắn chết 12 học sinh lứa tuổi 14 đến 18 và 1 giáo viên.

(3) Rote Armee Fraktion, tổ chức khủng bố cực tả hoạt động tại CHLB Đức những năm 70, chịu trách nhiệm 34 vụ giết người nhắm vào giới chính trị, hành chính, kinh tế, cảnh sát, quan thuế..., bắt cóc con tin, đánh bom khiến 200 người bị thương.

Tranh của
© Franz Kline (1910-1962): Họa sĩ phái Trừu tượng Biểu hiện Mỹ.

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2016

Những năm tháng đến rồi đi

Heinrich Heine (1797-1856)

Tranh © Henri de Toulouse-Lautrec (1984-1901)

Những năm tháng đến rồi đi
Các dòng tộc đi xuống mộ
Tình yêu trong tim thế đó
Tôi giữ chẳng bao giờ phai

Chỉ muốn thấy em một lần
Và trước mặt em quỳ gối
Nói với em lời hấp hối:
- Thưa phu nhân, tôi yêu bà!

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức


Die Jahre kommen und gehen

Heinrich Heine (1797-1856)

Die Jahre kommen und gehen,
Geschlechter steigen ins Grab,
Doch nimmer vergeht die Liebe,
Die ich im Herzen hab.

Nur einmal noch möcht ich dich sehen
Und sinken vor dir aufs Knie,
Und sterbend zu dir sprechen:
Madame, ich liebe Sie!

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

Tranh của © Henri de Toulouse-Lautrec (1984-1901): Họa sĩ, nhà đồ họa Hậu Ấn tượng Pháp.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...