Thứ Ba, 25 tháng 10, 2022

Thiên hạ ngu, thiên hạ mù

Heinrich Heine   



Thiên hạ ngu, thiên hạ mù thật,
Ngày ngày qua càng nhạt nhẽo thêm!
Cô bé xinh, họ nói về em:
Rằng tính nết em không đứng đắn.

Thiên hạ ngu, thiên hạ mù hẳn,
Và họ sẽ luôn nhìn nhận em sai;
Họ đâu biết nụ hôn em sao ngọt
Và cháy nồng lan tỏa ngất ngây.

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Die Welt ist dumm, die Welt ist blind

Heinrich Heine

Die Welt ist dumm, die Welt ist blind,
Wird täglich abgeschmackter!
Sie spricht von dir, mein schönes Kind:
Du hast keinen guten Charakter.

Die Welt ist dumm, die Welt ist blind,
Und dich wird sie immer verkennen;
Sie weiß nicht, wie süß deine Küsse sind,
Und wie sie beseligend brennen.

Chú thích của người dịch:

Heinrich Heine (1797-1856): Nhà thơ, nhà văn và nhà báo, tác gia hàng thi hào Đức, đại diện cuối cùng và là người vựợt bỏ trào lưu Lãng mạn, có thi phẩm được phổ nhạc và dịch ra tiếng nước ngòai nhiều nhất. Độc giả Việt Nam biết tới và yêu mến Heinrich Heine ngay từ tập thơ đầu tiên gồm nhiều bản dịch từ tiếng Pháp của các nhà thơ Việt Nam, có thể kể Tế Hanh, Hòang Trung Thông, Đào Xuân Quý.

George Sand viết về Heine:

„...Heine nói ra những điều rất độc địa, và những câu chuyện tiếu của ông đâm trúng tim đen. Người ta cho rằng về bản chất ông là người độc ác, nhưng không có gì sai hơn thế. Lòng dạ ông tốt, cũng như miệng lưỡi ông ấy tệ. Ông tính dịu dàng, ân cần, dâng hiến, lãng mạn trong tình yêu, vâng yếu đuối nữa và một người đàn bà có thể thoải mái thống trị ông."

„Heine sagt sehr bissige Sachen, und seine Witze treffen ins Schwarze. Man hält ihn für von Grund auf böse, aber nichts ist falscher; sein Herz ist so gut wie seine Zunge schlecht ist. Er ist zärtlich, aufmerksam, aufopfernd, in der Liebe romantisch, ja schwach, und eine Frau kann ihn unbegrenzt beherrschen.“ (George Sand).

Friedrich Nietzsche viết về Heinrich Heine:

"Heinrich Heine đã cho tôi khái niệm cao nhất về một nhà thơ trữ tình. Tôi đã hoài công kiếm tìm trong mọi vương quốc của những kỷ ngàn năm một thứ âm nhạc da diết và ngọt ngào tương tự. Ông có một sự độc địa của thánh thần, thiếu thứ đó tôi nào đâu nghĩ nổi điều hoàn hảo (...).- Và ông ấy sử dụng tiếng Đức ra sao! Sẽ có lần người ta nói, xét cho cùng Heine và tôi là những nghệ sĩ đầu tiên của tiếng Đức.“

„Den höchsten Begriff vom Lyriker hat mir Heinrich Heine gegeben. Ich suche umsonst in allen Reichen der Jahrtausende nach einer gleich süßen und leidenschaftlichen Musik. Er besaß eine göttliche Bosheit, ohne die ich mir das Vollkommene nicht zu denken vermag (…). – Und wie er das Deutsche handhabt! Man wird einmal sagen, dass Heine und ich bei weitem die ersten Artisten der deutschen Sprache gewesen sind.

Tranh của Pierre Bonnard (1867-1947): Họa sĩ Hậu Ấn tượng Pháp.

Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2022

Khắp nơi

Joachim Ringelnatz        


Nơi nơi là xứ cổ tích
Sự sống ở khắp mọi miền
Nơi cô tôi đi nịt tất
Như nơi đâu đó sát bên.

Khắp nơi là bóng tối đêm
Trẻ con trở thành người bố.
Ấy chỉ năm phút sau đó
Có gì chết một quãng thôi.
Sự vĩnh hằng ở muôn nơi.

Nếu anh thổi vào ốc sên
Nó rụt vào vỏ tức khắc,
Nhúng nó vào rượu cô-nhắc
Nó thấy lũ chuột trắng phau.

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Joachim Ringelnatz

Überall

Überall ist Wunderland
Überall ist Leben
Bei meiner Tante im Strumpfenband
wie irgendwo daneben.

Überall ist Dunkelheit
Kinder werden Väter.
Fünf Minuten später
stirbt sich was für einige Zeit.
Überall ist Ewigkeit.

Wenn Du einen Schneck behauchst
Schrumpft er ins Gehäuse,
Wenn Du ihn in Kognak tauchst,
Sieht er weiße Mäuse.

Chú thích của người dịch:

Joachim Ringelnatz (1883-1934): Nhà thơ, nhà văn, diễn viên kịch cabaret, họa sĩ. Nhiều tác phẩm hài hước, hí lộng, và biểu hiện của ông còn được độc giả hôm nay biết đến và yêu thích.

Tranh của Joan Miró (1893-1983): Họa sĩ, nhà đồ họa, điêu khắc và nhà làm gốm Tây Ban Nha.

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2022

Sự tươi mát mùa hè

Joachim Ringelnatz     



Hãy gẩy một lọn mây khỏi quầng mây trắng,
Mây sải bước qua bầu trời nắng.
Hãy điểm trang chiếc mũ tháp tùng anh,
Bằng một nhánh lúa xanh.

Hãy lười biếng náu mình trong um tùm cỏ lá
Vì nó làm ta lâng lâng khoái trá.
Và nếu anh là kẻ thổi kèn harmonica
Giắt theo chiếc nào, chơi ngay khúc nhớ ra.

Hãy để những giai điệu của anh đánh lái
Khỏi khúc đàn mây tang tính buông trao.
Hãy quên mình đi. Tư duy của anh vậy
Chẳng nên hơn cú nhảy của cào cào.

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Sommerfrische

Joachim Ringelnatz

Zupf dir ein Wölkchen aus dem Wolkenweiß,
Das durch den sonnigen Himmel schreitet.
Und schmücke den Hut, der dich begleitet,
Mit einem grünen Reis.

Verstecke dich faul in der Fülle der Gräser.
Weil`s wohltut, weil`s frommt.
Und bist du ein Mundharmonikabläser
Und hast eine bei dir, dann spiel, was dir kommt.

Und lass deine Melodien lenken
Von dem freigegebenen Wolkengezupf.
Vergiss dich. Es soll dein Denken
Nicht weiter reichen als ein Grashüpferhupf.

Chú thích của người dịch:

Joachim Ringelnatz (1883-1934): Nhà thơ, nhà văn, diễn viên kịch cabaret, họa sĩ. Nhiều tác phẩm hài hước, hí lộng, và biểu hiện của ông còn được độc giả hôm nay biết đến và yêu thích.

Tranh của họa sĩ cùng thời với nhà thơ. ND chưa tìm lại được tên.

Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2022

Lá rũ

Hermann Hesse   



Từng nụ bông muốn thành trái quả
Mỗi ban mai muốn hóa chiều đêm,
Không vĩnh hằng nào ngụ ở trần gian
Hơn biến thiên, và sự đào thoát.

Cả mùa hè đẹp nhất cũng muốn
Một bận cảm thu và sự úa tàn.
Nếu gió muốn bắt mi đi mất,
Lá ơi, hãy nín lặng kiên gan.

Hãy chơi trò của mình và đừng kháng cự,
Để trò chơi lặng lẽ xảy ra.
Hãy để gió bứt mi khỏi cuống
Cuốn nâng mi bay trở lại nhà.

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Welkes Blatt

Hermann Hesse

Jede Blüte will zur Frucht,
Jeder Morgen Abend werden,
Ewiges ist nicht auf Erden
Als der Wandel, als die Flucht.

Auch der schönste Sommer will
Einmal Herbst und Welke spüren.
Halte, Blatt, geduldig still,
Wenn der Wind dich will entführen.

Spiel dein Spiel und wehr dich nicht,
Laß es still geschehen.
Laß vom Winde, der dich bricht,
Dich nach Hause wehen.

Chú thích của người dịch:
Hermann Hesse: (Hermann Karl Hesse, cũng dưới bút danh Emil Sinclair, 1877 - † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói thảo nguyên) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.
Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.
Tác phẩm:
Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ
Văn xuôi:
- Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết, Tuổi trẻ và cô đơn, Vũ Đình Lưu dịch.
- Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết.
- Tuổi trẻ băn khoăn (Demian, 1917), truyện dài, Hoài Khanh dịch.
- Siddhartha (1920), tiểu thuyết được Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch dưới tiêu đề Câu chuyện dòng sông.
- Sói thảo nguyên (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.
- Đôi bạn chân tình (Narziss und Goldmund), Vũ Đình Lưu dịch.
- Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết.
- Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.

Tranh của Tranh của Isaak Iljitsch Lewitan (1860-1900): Họa sĩ người Nga- Do thái.

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2022

Ai bị lời đánh bật

Horst Bienek     



Năm 1964, trong lễ trao giải thưởng Büchner cho Ingeborg Bachmann, tác giả nữ người Áo tuyên bố, có lẽ bà „ sẽ không viết thêm bài thơ nào nữa“. Và trong một cuộc phỏng vấn tiến hành tại Rom năm 1971, bà nói chắc như đinh đóng cột:

Chẳng bao giờ tôi viết thêm bài thơ nữa!

Trong mười năm cuối của đời mình (bà mất ngày 17.10.1973 sau một vụ hỏa hoạn) dưới ngòi bút của bà chỉ không quá 6 bài thơ mới ra đời, trong đó bà đưa in 5 bài khi còn sống (1968), bài thứ 6 mang tiêu đề „ Một dạng mất mát“ duy nhất được tìm thấy trong di cảo. Một trong những bài thơ viết muộn màng, mang tiêu đề „Thật thế“ mang chút âm hưởng kinh thánh viết tặng Anna Achmatova, người bà gặp tại Rom vào tháng 12 năm 1964 – có lẽ thời gian ngắn sau cuộc gặp đó văn bản này xuất hiện. Ingeborg Bachmann hẳn phải biết tiểu sử Achmatova và một số bài thơ của bà, chắc chắn trong đó có chùm thơ „Requiem“ (Khúc Cầu Hồn). Bà hẳn phải biết, một thời gian dài nữ thi sĩ người Nga bị trù dập trên đất nước của chính mình và hơn hai mươi năm liền không được phép xuất bàn một dòng nào. Tác phẩm thơ mỏng; trong đó có những câu thơ thông báo thời gian ra đời khoảng 1936 – 1960 (thí dụ bài thơ về Mandelstam chỉ có 8 dòng). Suy xét tất cả những khía cạnh đó, bài thơ của Ingeborg Bachmann đã nhập đề:

Ai chưa bao giờ bị một lời đánh bật, kẻ đó không sao giúp nổi-

Trước một con sóng đại hồng thủy của thơ ca đã được xuất bản, bà đã khẩn thiết lưu ý: có thể có những trải nghiệm và kinh nghiệm dành cho một nhà văn khiến cho người này nín lặng. Vâng, dưới những tình cảnh đặc biệt, sự nín lặng mới làm người đó trở thành một thi sĩ đích thực. Trong một động thái thi ca đi tới đỉnh điểm, bà khinh thường những kẻ luôn tắp lự sẵn có một câu trả lời, những kẻ có trời mà biết luôn biết trợ giúp mình bằng lời, những vị „ đánh bong các ẩn dụ … sổ toẹt cú pháp“ như vài năm trước đó bà viết về họ trong một bài thơ („Không cao lương mỹ vị“). Tốt hơn người ta không nên tin cậy họ, qua một chặng đường, kể qua những chặng đường vòng. Người ta không cần một cuộc đời chẳng lẽ, một „cuộc tồn sinh trải nghiệm đau khổ“ – để làm cho một câu duy nhất trường tồn! Để „chịu qua được trong tiếng leng reng của lời“? „Leng reng của lời“, nghe thật suồng sã, nhưng mà đằng sau đó ẩn chứa một vị chua cay miệt thị; trong tiếng lanh lảnh thô tục của lời: người ta phải chịu đựng và vượt qua trong khuôn khổ đó, và phải làm cho âm sắc của riêng mình được nghe ra và không sao bị át đi. Thậm chí đôi khi người ta nín thinh và câm lặng. Và chính vì thế kết thúc ở câu ma lực, mang tính thú nhận và đầy sự quyết đoán lạnh buốt giá băng (người ta bị cám dỗ trước tiên bởi tiêu đề „Thật vậy):„ Viết câu này không ai là kẻ không ký vào“. Hẳn vậy có nghĩa là: Kẻ không ký vào bản án của mình!“. Và có thể bản án có nghĩa: không viết bài thơ nào nữa?

Người ta biết, cuối cùng sau hai mươi năm cấm viết, cuối cùng trong chiến tranh, Anna Achmatova được xuất bản hai tập thơ, tuy nhiên chẳng bao lâu sau bà bị đảng công kích, và năm 1946 bà bị khai trừ khỏi Hội nhà văn. Mãi tới những năm 60 bà mới được phục hồi danh dự.- Bà đã im lặng. Không chống trả lại tiếng leng reng của lời. Nhưng bà đã bảo tồn được câu trong những vần thơ của mình. Một thái độ phải rất đỗi gụi gần với cảm nhận riêng tư về thi ca của Ingeborg Bachmann. Hiểu như vậy,„Thật thế“ là một bài thơ bộc lộ nhiều điều không kém về nữ thi sĩ người Nga Anna Achmatova cũng như về nữ sĩ ngưới Áo Ingeborg Bachmann. Và về sự bóp nghẹt thơ ca trong tiếng leng reng của những lời ồn ã quanh ta.

Nguồn: Horst Bienek, aus Marcel Reich-Ranicki (Hrsg.): Frankfurter Anthologie. Vierter Band, Insel Verlag, 1979

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Thật thế


INGEBORG BACHMANN

Gửi Anna Achmatova


Ai chưa bao giờ bị một lời đánh bật,
và tôi nói điều này với các bạn,
ai chỉ biết cứu lấy mỗi thân mình
bằng lời nói –

Kẻ đó chẳng sao giúp nổi.
Không qua chặng đường ngắn
và không qua dặm dài.

Bảo tồn được một câu duy nhất,
vượt qua trong tiếng leng keng của lời.

Viết câu này không ai là kẻ,
không ký vào.

Nguyên tác tiếng Đức :

INGEBORG BACHMANN

Wahrlich

für Anna Achmatowa


Wem es ein Wort nie verschlagen hat,
und ich sage es euch,
wer bloß sich zu helfen weiß
und mit den Worten –

dem ist nicht zu helfen.
Über den kurzen Weg nicht
und nicht über den langen.

Einen einzigen Satz haltbar zu machen,
auszuhalten in dem Bimbam von Worten.

Es schreibt diesen Satz keiner,
der nicht unterschreibt.

Chú thích của người dịch:

Horst Bienek (1930-1990): Nhà văn Đức.

Ingeborg Bachmann (1926-1973) : Nhà văn người Áo, một trong những thi sĩ, cây bút văn xuôi quan trọng nhất của văn chương tiếng Đức thế kỳ 20.

Tranh của Amedeo Clemente Modigliani (1984-1920) Họa sĩ, điêu khắc gia người Ý.

Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2022

Thật thế

Ingeborg Bachmann  


Gửi Anna Achmatova

Ai chưa bao giờ bị một lời đánh bật,
và tôi nói điều này với các bạn,
ai chỉ biết cứu lấy mỗi thân mình
bằng lời nói -

Kẻ đó chẳng sao giúp nổi.
Không qua chặng đường ngắn
và không qua dặm dài.

Bảo tồn được một câu duy nhất,
vượt qua trong tiếng leng keng của lời.

Viết câu này không ai là kẻ,
không ký vào.

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Ingeborg Bachmann

Wahrlich

für Anna Achmatowa

Wem es ein Wort nie verschlagen hat,
und ich sage es euch,
wer bloß sich zu helfen weiß
und mit den Worten –

dem ist nicht zu helfen.
Über den kurzen Weg nicht
und nicht über den langen.

Einen einzigen Satz haltbar zu machen,
auszuhalten in dem Bimbam von Worten.

Es schreibt diesen Satz keiner,
der nicht unterschreibt.

Chú thích của người dịch:

Ingeborg Bachmann (1926-1973) : Nhà văn người Áo, một trong những thi sĩ, cây bút văn xuôi quan trọng nhất của văn chương tiếng Đức thế kỳ 20.

Tranh của Amedeo Clemente Modigliani (1984-1920) Họa sĩ, điêu khắc gia người Ý.

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2022

Có gì đó như một sự giải thoát

Peter Hamm    



Cách đây 100 năm, ngày 03.11.1914 Georg Trakl mất trong nhà thương quân đội Krakow, một nạn nhân sớm của một cuộc chiến người đời gọi tên như một đại nạn của thế kỷ 20. Bài thơ „Một tối mùa đông“ xuất hiện còn trước cả khi chiến tranh bắt đầu, phỏng đoán tại Salzburg, cái thành phố vẻ quyến rũ và suy tàn mang vị thối rữa được Trakl, theo cung cách không thể nào so sánh, nâng cao lên địa hạt thơ ca (chính điều này khiến cho Salzburg đối với tôi, thành phố của Mozart có ý nghĩa nhiều hơn nữa là thành phố của Trakl).

Salzburg của tôi tên là Ravensburg. Thành phố tự do khi xưa nằm gần hồ Bodensse với bức tường thành đổ nát và những tháp canh ảm đạm trong đó quạ bầy trú ngụ đã cấp cho tôi một nền phông giấy bạc lấp lóa sự hào hứng đối với Trakl của tôi, vâng sự say sưa Trakl mà một cuốn thơ ông tìm thấy được trong thư viện của linh mục giáo phận đã đưa tôi vào, với các bài thơ trong đó „Một tối mùa đông“ đã lay động tôi sao mới dịu đau bình thường ra có thể chỉ may ra âm nhạc, nhạc của Franz Schubert mang lại. Tôi mười lăm tuổi và vừa thoát ra khỏi sự hành hạ của những trại giáo dưỡng và các trường dòng công giáo tôi bị đày vào sau khi mẹ tôi mất sớm. Và giờ đây làm nhân viên của một quầy hàng lạng lọc lông và da thú có địa chỉ lại đúng là „Trong Địa Ngục“ tôi bán cho các đồ tể của địa phương những lòng ruột, bạch đậu khấu và những gia vị khác – và ngồi đọc, đọc tập đó trong từng phút rỗi. Ở những buổi tối mùa thu hay mùa đông, nều như tôi từ „Địa ngục“ đó về, và thường xuyên, lòng nặng trĩu nỗi ê chề lang thang vô định qua công viên với những cây đoan cây dẻ dọc theo bức tường thành xưa cũ, nơi mùi thối rữa bốc lên từ mương nước, hoặc bước qua những ngõ ngách hẹp khuất góc của thành phố cổ dưới lũy thành Veitsburg, nếu như sau đó, như trong bài thơ Trakl bày đặt, những quả chuông chiều vẻ như đã bắt đầu ngân rung nữa, thì tất cả những gì tôi nhìn thấy, lặn xuống sắc mầu ngất ngây say của Trakl, và tôi thở hít gần như khoan khoái bầu không khí của Trakl. Hầu như tôi không thuộc về những người được“ sẵn bàn ăn bầy biện ", nhưng dạo đó đối với nhiều người đã không có bàn nào dọn sẵn và không „cây ơn phước" nào nở hoa kết trái, sự bất hạnh của những người bị ruồng rẫy khỏi quê hương, kẻ muộn mằn trở về nhà, những người thương binh chiến trận và những người côi cút vì chiến tranh cũng tô đen bức tranh vốn thoáng qua sao thơ mộng của Ravensburg. Tôi cảm thấy thân thế mình không quê hương theo một nghĩa cơ bản, bởi vì tôi không chỉ đơn độc côi cút, mà thêm vào đó, hình dung mình thuộc về một tộc người chất đầy lời nguyền rủa còn dày vò tôi khổ sở. Vâng tôi không chỉ đọc những bài thơ, cả những bài thơ trong khoảnh khắc chóng vánh giải thoát cho tôi khỏi thứ thường ra đã đọc và những gì cho phép tôi nhìn vào vực thẳm của lịch sử. Trakl chẳng đã từng nhìn thấy mình bị đưa đẩy vào một thế ký vô chúa thánh đáng nguyền rủa và chính vì điều ấy cảm thấy một tội lỗi mà so với nó hiển nhiên việc viết những bài thơ chỉ là một cứu chuộc không hoàn hảo. Và lý cớ sâu xa của buồn thương và âm sắc than van của những bài thơ ông bắt nguồn từ tội lỗi này của một người vô tội.

„Bậu cửa trơ thành đá đớn đau“: Tôi những không thể giải thích được dòng này từ khổ cuối của bài thơ „Một tối mùa đông“, nhưng mà nói thế nào nhỉ, tôi hiểu bài thơ bằng cả thân thể và linh hồn (sau này tôi đọc được điều Ludwig Wittgenstein tiết lộ về những bài thơ của Trakl: „ Tôi không hiểu chúng, nhưng âm hưởng của chúng làm tôi hạnh phúc“). Và tôi đã hiểu và sẻ chia nỗi ước mong được biến hóa và giải thoát. Bánh mì và rượu vang trong bài thơ của ông quả nhiên nhiều hơn bánh mì và rượu vang, như một sự biến đổi của bí tích thánh thể, chúng là những dạng thức xuất hiện của thần thánh và tuy thế đồng thời là ân phước của bánh mì hàng ngày. Trong thực tế „Một tối mùa đông“ của Trakl là một bài thánh thi. Trong bài thơ „Nhân loại“ sau này của ông, dâng lên với dòng thơ „Nhân loại đặt vào trước những cuống họng lửa “và tác động như một tuyên ngôn chống lại sự tàn sát qui mô lớn vừa mới bắt đầu, chính bản thân Trakl đã gọi lên bữa tiệc cuối cùng:

„Ấy là một sự nín thinh dịu dàng ngự trong rượu vang và bánh
Và những ai kia tụ tập con số mười hai người.“


Mà thế mười hai người không tìm thấy bình an trong bài thơ về nhân loại:

„Đêm đêm dưới những cành ô-liu họ hét lên trong giấc ngủ.“

Họ hết lên như những người bị thương nặng và người hấp hối vùng Grodek thuộc Ba Lan, sự đớn đau của họ người y sĩ cứu thương Georg Trakl không làm sao còn chịu nổi lâu thêm nữa và chính vì thế đã quyên sinh bằng morphine quá liều.

Georg Trakl và sự sớm trải nghiệm những bài thơ của ông lần đầu tiên trong đời đã cho tôi ý thức được, sự trở về nhà đúng nghĩa và chút gì đó như sự giải thoát khỏi lịch sử chỉ có trong nghệ thuật, trong bài thơ, trong sự viết mà thôi.

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Nguồn: Peter Hamm, aus Marcel Reich-Ranicki (Hrsg.): Frankfurter Anthologie. Achtunddreißigster Band, Insel Verlag, 2015

Một tối mùa đông

Georg Trakl (1887-1914)

Mỗi khi tuyết chạm rơi khung cửa'
Và chuông chiều rền rã hồi ngân,
Nhiều người sẵn bàn ăn bày biện
Và cả nhà xúm xít quây quần.

Còn vài người vẫn đang hành khất
Nẻo tối tăm về tới cổng nhà.
Cây Ơn Phước nở vàng ròng sắc
Từ phù sa lạnh đất ra hoa.

Người lữ khách bước vào im ắng;
Bậu cửa trơ thành đá đớn đau.
Trên bàn óng rượu vang và bánh
Vẻ long lanh tinh khiết sáng màu.

© Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Ein Winterabend

Georg Trakl (1887-1914)

Wenn der Schnee ans Fenster fällt,
lang die Abendglocke läutet,
vielen ist der Tisch bereitet
und das Haus ist wohlbestellt.

Manche auf der Wanderschaft
kommt ans Tor auf dunklen Pfaden.
Golden blüht der Baum der Gnaden
aus der Erde kühlem Saft.

Wanderer tritt still herein;
Schmerz versteinerte die Schwelle.
Da erglänzt in reiner Helle
auf dem Tische Brot und Wein.

Bản tiếng Anh

A Winter Evening

Georg Trakl (1887-1914)

When the snow falls against the window,
The evening bell rings long,
The table is prepared for many,
And the house is well cultivated.

Some in their wanderings
Come to the gate on dark paths.
The tree of grace blooms golden
From the earth's cool sap.

Wanderer, step silently inside;
Pain has petrified the threshold.
There in pure radiance
Bread and wine glow upon the table.

© Jim Doss & Werner Schmitt

Chú thích của người dịch:

Peter Hamm (1937 – 2019): Nhà thơ, nhà văn nhà phê bình văn học.
Ludwig Wittgenstein: (1889 – 1951): Triết gia quan trọng của thế kỷ 20 với những tác phẩm về ngôn ngữ và ý thức.

Georg Trakl (1887 - 1914): Người Áo, nhà thơ nổi tiếng của Chủ nghĩa Biểu hiện Đức, được coi là nhà thơ viết bằng tiếng Đức xuất sắc nhất cùng với Rainer Maria Rilke ở đầu thế kỷ 20.

Tòan bộ thi phẩm của ông mang dấu ấn của hòai cảm, u sầu và hướng tìm Thiên Chúa. Có thể kể Cái chết, Suy đồi và sự Suy tàn của Tây Phương như những hàm ý chính ở thơ trữ tình sâu xa của Georg Trakl đầy những biểu tượng và ẩn dụ.

Đôi nét tiểu sử: Georg Trakl, con thứ năm trong gia đình tư sản khá giả có bảy con. Cha có cửa hàng khóa, mẹ khó tính với các con, nghiện ma túy. Georg Trakl trải qua thời niên thiếu tại Salzburg* 1897 – 1905 Học xong trung học, được coi là học trò kém (ở các môn tiếng Latinh, Hy Lạp và Tóan), không đỗ tú tài * 1908 Qua kỳ Thực tập, để nghiên cứu 4 học kỳ ngành dược* 1910 Học xong bằng y sĩ * Khi thế chiến I bùng nổ, ông tham gia mặt trận với chức vụ y sĩ quân đội. * Ngày thêm trầm cảm, trải qua trận đánh vùng Grodek ông bị suy sụp thần kinh. *1914 Chết (tự sát) trong một nhà thương quân đội ở Krakau sau khi dùng cocain quá liều.

Tranh của Isaak Iljitsch Lewitan (1860-1900): Họa sĩ người Nga- Do thái.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...