Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2022

trong tuần thứ ba tháng Ba

Martin Jankowski     



phục sinh ào ạt
trước cửa sổ nhà các anh

trong ngôn ngữ nhám thô
như thường khi các anh giải phẫu
sự lụi tàn của thế gian đang tới

tôi ngỡ ngàng
những mạch máu
của bạch dương nõn nường
trên sân.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Chú thích của người dịch:
Martin Jankowski, sinh năm 1965 tại Greifswald: Nhà thơ, nhà văn người Đức, xuất bản nhiều tập thơ, truyện ngắn, tiểu luận, phê bình văn học và một cuốn tiểu thuyết. Tác giả của những tác phẩm được dịch ra 17 thứ tiếng thường xuyên được mời thỉnh giảng tại các trường đại học và tham dự các liên hoan quốc tế. Hiện nay ông chủ trì nhiều dự án văn hóa và các tọa đàm văn chương. Là người sáng lập die Berline Literarische Aktion (Hiệp hội hành động văn chương Berlin) ông chịu trách nhiệm xuất bản tạp chí đa ngôn ngữ stadtsprachen và chỉ đạo loạt chương trình PARATAXE.

Tranh của Julie Wolfthorn (1864-1944): Nữ họa sĩ Đức, gương mặt nổi bật của phái Hiện đại. Bà mất trong trại tập trung. Trừ các tác phẩm còn lại trong bảo tàng, tác phẩm đồ sộ của bà một thời gian dài bị coi như mất tích. Năm 2000, khi nhiều tranh được tìm thấy , nữ họa sĩ được phát hiện lại và trả về vị trí cao trọng trong nền nghệ thuật tạo hình của Đức.

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2022

hai giây hoàn toàn

Martin Jankowski    
 


nơi nào đó ngoài xa đồng lúa mạch
cỏ mọc từ lâu ngập những con đường
bầu trời cao xanh dương mất hút
màu lục xanh sẫm lá bạch dương

một ánh mắt như đục trổ khỏi
từ một giấc mơ, một cuốn sách cổ xưa
rót đầy phổi tôi khí nóng ban trưa
tôi có thể bay, điều này tôi rõ

đồng lúa mạch đu đưa theo gió
không cột điện, thép gai chia cắt bầu trời
chỉ cỏ với những bông hoa khẽ gật
nín lặng mùa hè là một tiếng reo vui

nín lặng mùa hè là một tiếng reo vui lớn
chỉ bụi và nóng dạt qua sự yên bình
tôi hối hả qua bao nhiêu ngày nhật, thị thành
để trông thấy nơi đây đồng lúa mạch

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

zwei sekunden ganz

das weizenfeld dort irgendwo weit draußen
die wege längst vom gras verwachsen
verlorner blauer hoher himmel
das dunkelgrün der pappelblätter

ein augenblick wie ausgeschnitten
aus einem traum aus einem alten buch
die warme mittagsluft füllt mir die lungen
und mir ist klar ich könnte fliegen

das weizenfeld vom wind gewiegt
kein mast kein draht zerteilt den himmel
nur gräser nicken mit den blüten
das sommerschweigen ist ein großer jubel

das sommerschweigen ist ein großer jubel
nur staub und wärme treiben durch die ruhe
durch wieviel tage städte mußt ich hasten
um dieses weizenfeld zu sehn

Chú thích của người dịch:
Martin Jankowski, sinh năm 1965 tại Greifswald: Nhà thơ, nhà văn người Đức, xuất bản nhiều tập thơ, truyện ngắn, tiểu luận, phê bình văn học và một cuốn tiểu thuyết. Tác giả của những tác phẩm được dịch ra 17 thứ tiếng thường xuyên được mời thỉnh giảng tại các trường đại học và tham dự các liên hoan quốc tế. Hiện nay ông chủ trì nhiều dự án văn hóa và các tọa đàm văn chương. Là người sáng lập die Berline Literarische Aktion (Hiệp hội hành động văn chương Berlin) ông chịu trách nhiệm xuất bản tạp chí đa ngôn ngữ stadtsprachen và chỉ đạo loạt chương trình PARATAXE.

Tranh của Julie Wolfthorn (1864-1944): Nữ họa sĩ Đức, gương mặt nổi bật của phái Hiện đại. Bà mất trong trại tập trung. Trừ các tác phẩm còn lại trong bảo tàng, tác phẩm đồ sộ của bà một thời gian dài bị coi như mất tích. Năm 2000, khi nhiều tranh được tìm thấy , nữ họa sĩ được phát hiện lại và trả về vị trí cao trọng trong nền nghệ thuật tạo hình của Đức.

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2022

tất cả

Martin Jankowski   



tất cả
là ngôn ngữ
những đồ vật
(tôi, tuyết, các vì tinh tú)
là những ẩn dụ
một, và của chính nó
điều đó làm chúng ta
cùng hàng họ

ban đầu
thế giới
cất lời

trong ngữ pháp
của ánh sáng

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức bài thơ trong tập sekundenbuch

Chú thích của người dịch:

Martin Jankowski, sinh năm 1965 tại Greifswald: Nhà thơ, nhà văn người Đức, xuất bản nhiều tập thơ, truyện ngắn, tiểu luận, phê bình văn học và một cuốn tiểu thuyết. Tác giả của những tác phẩm được dịch ra 17 thứ tiếng thường xuyên được mời thỉnh giảng tại các trường đại học và tham dự các liên hoan quốc tế. Hiện nay ông chủ trì nhiều dự án văn hóa và các tọa đàm văn chương. Là người sáng lập die Berline Literarische Aktion (Hiệp hội hành động văn chương Berlin) ông chịu trách nhiệm xuất bản tạp chí đa ngôn ngữ stadtsprachen và chỉ đạo loạt chương trình PARATAXE.

Tranh của Paul Klee (1879-1940): Họa sĩ Đức, tác phẩm tiền phong, đa dạng có thể xếp vào nhiều trường phái Biểu hiện (Expressionism), Kết dựng (Construktivism), Lập thể (Cubism) Hoang dại (Primitivism) và Siêu thực (Surrealism).

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2022

Đi trong tao loạn

Phạm Kỳ Đăng  
  


I.

mặt trời xả nóng ran ran cốt
dãy thuyền ép xác mo nang,-
đám người nhỏm dậy
lưng hằn bao bố võ vàng

bãi rên
tiếng la buốt óc

li loạn
chạm trần.

còn đó
hỗn độn xoay vần
ong ong búi nắng
hành lý của người khốn đốn
xếp sao nỗi tả tơi

than cháy lòng nhẫn nại
bóng tối cời xót thương
tia lửa đâm đầu cháy
mạch máu hở bên đường

trong thúng ấp bầy chó nhỏ
tròn xoe những giọt mắt nâu;
xưa nay trung thành khốn khổ
mừng vui dâng hiến cơ cầu.

anh nghe gió ù ngằn ngặt
của lòng quặn sữa khóc thầm
xe nẩy vợ con bấu níu
anh nghe đá cứa gan chân

trên chiếc xe tàng rỉ sét
két bùn đóng kín. Mông lung
như ý nghĩ anh
lá cồn bấn loạn
khép chiều kín mít
như bưng

kẹt giờ khắc
mài bằng
hài cốt

II.

anh mơ mùa hoa ban nở
khói làn day dứt trên nương;
hoang mang tộc người lưu lạc
truyền đời trên đất quê hương

tinh khôi rặng hoa rừng ngợp
trắng từ ấp ủ lên men;
gặp lại nhau cười tươi sáng
nhớ nhung khuây khỏa nỗi niềm.

ngàn xe đứng hầm đổ dốc
lao đi. anh nhớ lan man
ao trong lắng lòng cố quán;
chưa từng dò xét phân vân.

III.

anh đi trong gió bào hốc hác
đường về còn bao chuyến quá giang
ngược xuôi có đủ bao tất tả,
xế chiều tiềm ẫn nỗi hoang mang

và hoảng hốt như rời mặt đất
xe lăn đi những thanh táp rời long;
những buông xuôi cho sự tồn vong
cũng rải rác khổ hình tan nát.

thanh đòn ngang dọc cùng gùi, sọt
anh hình dung phác thảo chênh vênh;
về cất lại ngôi nhà vách đá
một cheo leo phó thác tồn sinh.

2022

Tranh của Lưu Văn Sìn (1910-1983:) Vietnamese Painter - Họa sĩ Việt Nam

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

Cuộc dạo chơi

Georg Trakl (1887-1914)    




1.

Ban chiều nhạc ngân nga trong khóm lá.
Trên đồng mạch, bù nhìn nghiêm nghị vần xoay.
Bên đường, bụi cơm cháy theo gió giật bay;
Một ngôi nhà nhấp nhoáng lạ kỳ và tán loạn.

Trong ánh vàng mùi xạ hương thoang thoảng
Trên một hòn đá khắc một con số vẻ sáng trong.
Trên một đồng cỏ trẻ con chơi ném bóng,
Trước mặt anh một cây bốc xoay vòng.

Anh mơ: cô em gái chải mái tóc vàng óng,
Một người bạn xa cũng viết cho anh một bức thư.
Một mái rơm chạy qua miền xám, nghiêng lệch và ố mờ
Và đôi khi anh bay lâng lâng và tuyệt diệu.

2.

Thời gian kiệt cạn. Ôi Helios (1) ngọt ngào thương mến!
Ôi ảnh hình soi trong vũng cóc ngọt và trong;
Một thiên thu đắm chìm tuyệt vời trong cát
Một bụi cây ôm bầy hoàng yến trong lòng.

Một em trai chết trong miền đất vô vọng
Và mắt em nhìn ánh rắn rỏi bi thương.
Trong ánh vàng thoang thoảng cỏ xạ hương.
Một cậu trai bên bờ ao đốt lửa.

Những tình nhân trong kén mới lại hồng hào sinh khí
Hớn hở quanh tảng đá và con số đu đưa.
Quạ nhào lên quanh bữa ăn tởm lợm
Và trán anh băng qua diệp lục êm tơ.

Trong bụi gai một con thú rừng nhẹ nhàng giãy chết.
Trượt theo anh một ngày xán lạn của trẻ thơ,
Cơn gió xám xối mùi thối rữa nhởn nhơ
Và tán loạn qua hoàng hôn chạng vạng.

3.

Một bài ru nôi cũ làm anh sao lo sợ.
Một mụ ngoan đạo cho con bú bên đường.
Bước mộng du, anh nghe nguồn sữa của bà tuôn.
Từ những cành táo âm thanh tụng cầu rớt xuống.

Rượu vang và bánh ngọt ngào từ cố công cực nhọc.
Bàn tay anh ánh bạc sờ sẫm tìm trái cây.
Thánh Rakchen đã chết đi qua ruộng cầy
Màu diệp lục thuận hòa vẫy gọi.

Lòng các cô gái nghèo cũng nhuận ơn phấn khởi,
Đứng bên thành giếng cũ nơi đó mộng mơ
Người cô đơn phấn chấn đi trên lối lặng tờ
Cùng với những sinh linh của Chúa Trời vô tội.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức 

Der Spaziergang

Georg Trakl (1887-1914)

1

Musik summt im Gehölz am Nachmittag.
Im Korn sich ernste Vogelscheuchen drehn.
Holunderbüsche sacht am Weg verwehn;
Ein Haus zerflimmert wunderlich und vag.

In Goldnem schwebt ein Duft von Thymian,
Auf einem Stein steht eine heitere Zahl.
Auf einer Wiese spielen Kinder Ball,
Dann hebt ein Baum vor dir zu kreisen an.

Du träumst: Die Schwester kämmt ihr blondes Haar,
Auch schreibt ein ferner Freund dir einen Brief.
Ein Schober fliegt durchs Grau vergilbt und schief
Und manchmal schwebst du leicht und wunderbar.

2.

Die Zeit verrinnt. O süßer Helios!
O Bild im Krötentümpel süß und klar;
Im Sand versinkt ein Eden wunderbar.
Goldammern wiegt ein Busch in seinem Schoß.

Ein Bruder stirbt dir in verwunschnem Land
Und stählern schaun dich seine Augen an.
In Goldnem dort ein Duft von Thymian.
Ein Knabe legt am Weiler einen Brand.

Die Liebenden in Faltern neu erglühn
Und schaukeln heiter hin um Stein und Zahl.
Aufflattern Krähen um ein ekles Mahl
Und deine Stirne tost durchs sanfte Grün.

Im Dornenstrauch verendet weich ein Wild.
Nachgleitet dir ein heller Kindertag,
Der graue Wind, der flatterhaft und vag
Verfallne Düfte durch die Dämmerung spült.

3.

Ein altes Wiegenlied macht dich sehr bang.
Am Wegrand fromm ein Weib ihr Kindlein stillt.
Traumwandelnd hörst Du wie ihr Bronnen quillt.
Aus Apfelzweigen fällt ein Weiheklang.

Und Brot und Wein sind süß von harten Mühn.
Nach Früchten tastet silbern deine Hand.
Die tote Rahel geht durchs Ackerland.
Mit friedlicher Geberde winkt das Grün.

Gesegnet auch blüht armer Mägde Schoß,
Die träumend dort am alten Brunnen stehn.
Einsame froh auf stillen Pfaden gehn
Mit Gottes Kreaturen sündelos.

Từ tập „Những bài thơ“ - 1913

Chú thích của người dịch:
(1) Trong thần thoại Hy Lạp, Mặt Trời được nhân cách hóa thành Helios (tiếng Hy Lạp: Ἥλιος / ἥλιος). Homer gọi Helios là một Titan hay Hyperion.
Helios là con của hai Titan: Hyperion và Theia và là anh của nữ thần Mặt Trăng Selene và nữ thần bình minh Eos.

Chú thích của người dịch:
Georg Trakl (1887-1914): Người Áo, nhà thơ nổi tiếng của Chủ nghĩa Biểu hiện Đức, được coi là nhà thơ viết bằng tiếng Đức xuất sắc nhất cùng với Rainer Maria Rilke ở đầu thế kỷ 20.
Đôi nét tiểu sử: Georg Trakl, con thứ năm trong gia đình tư sản khá giả có bảy con. Cha có cửa hàng khóa, mẹ khó tính với các con, nghiện ma túy. Georg Trakl trải qua thời niên thiếu tại Salzburg* 1897 – 1905: Học xong trung học, được coi là học trò kém (ở các môn tiếng La tinh, tiếng Hy Lạp và Toán), không đỗ tú tài * 1908: Qua kỳ Thực tập, để nghiên cứu 4 học kỳ ngành Dược* 1910: Học xong bằng Y sĩ * Khi thế chiến I bùng nổ, ông tham gia mặt trận với chức vụ y sĩ quân đội. * Ngày thêm trầm cảm, trải qua trận đánh vùng Grodek ông bị suy sụp thần kinh. *1914 Chết (tự sát) trong một nhà thương quân đội ở Krakow sau khi dùng cocaine quá liều.

Tranh của Tina Blau-Lang (1845 – 1916): Nữ họa sĩ người Áo, đại diện quan trọng của phái Phong Cách Trẻ Vienna.

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2022

Đầu thu

Hermann Hesse (1877-1962)    



Mùa thu rải rắc sương mù trắng,
Không thể nào cứ mãi mùa hè!
Đêm tối với ánh đèn le lói
Sớm dụ tôi từ ngoài lạnh vào nhà.

Chẳng mấy chốc vườn cây trống vắng,
Rồi chỉ còn giàn nho dại xanh tươi
Quấn quanh nhà, chẳng mấy rồi cũng lụi,
Không thể nào mãi chỉ hè thôi.

Những gì khiến tôi vui thời trai trẻ.
Mang vẻ ngoài hoan hỉ cũ xưa
Không còn vui, nay chẳng bao giờ nữa
Không lẽ sao mãi mùa hạ bao giờ.

Ôi tình yêu, than hồng tuyệt diệu
Đã cháy lên hoan lạc, gắng công
Qua năm tháng cho tôi trong máu
- Ôi tình yêu, mi có tàn không?

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Herbstbeginn

Hermann Hesse (1877-1962)

Der Herbst streut weiße Nebel aus,
Es kann nicht immer Sommer sein!
Der Abend lockt mit Lampenschein
Mich aus der Kühle früh ins Haus.

Bald stehen Baum und Garten leer,
Dann glüht nur noch der wilde Wein
Ums Haus, und bald verglüht auch der,
Es kann nicht immer Sommer sein.

Was mich zur Jugendzeit erfreut,
Es hat den alten frohen Schein
Nicht mehr und freut mich nimmer heut -
Es kann nicht immer Sommer sein.

O Liebe, wundersame Glut,
Die durch die Jahre Lust und Mühn
Mir immer hat gebrannt im Blut -
O Liebe, kannst auch du verglühen?

Chú thích của người dịch:
Hermann Hesse: (Hermann Karl Hesse, cũng dưới bút danh Emil Sinclair, 1877 - † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói thảo nguyên) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.
Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.
Tác phẩm:
Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ
Văn xuôi:
- Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết, Tuổi trẻ và cô đơn, Vũ Đình Lưu dịch.
- Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết.
- Tuổi trẻ băn khoăn (Demian, 1917), truyện dài, Hoài Khanh dịch.
- Siddhartha (1920), tiểu thuyết được Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch dưới tiêu đề Câu chuyện dòng sông.
- Sói thảo nguyên (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.
- Đôi bạn chân tình (Narziss und Goldmund), Vũ Đình Lưu dịch.
- Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết.
- Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.

Tranh của Iwan Iwanowitsch Schischkin (Иван Иванович Шишкин; 1832-1898): Họa sĩ người Nga.

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022

Mây

Hermann Hesse (1877-1962)   




„Hãy chỉ tôi xem trên thế giới rộng dài người am tường về mây và yêu chúng hơn tôi! Hoặc chỉ cho tôi trên thế gian này thứ đồ vật đẹp hơn những đám mây! Chúng là trò chơi và niềm an ủi đôi mắt, chúng là phước lành và thiên phú Chúa Trời ban cho, chúng là cơn giận dữ và uy quyền của cái chết. Chúng có hình dạng của những hòn đảo thoát trần và hình dáng của những thiên thần ban phước. Giữa bầu trời của thiên chúa và mặt đất đáng thương chúng lơ lửng như những dụ ngôn đẹp về mọi nỗi nhớ mong của con người, thuộc về cả hai nơi như những giấc mơ của trái đất chúng nép cái linh hồn vẩn đục của chúng sát vào bầu trời tinh khiết. Chúng là hình tượng vĩnh cửu của mọi sự du hành, tìm kiếm, đòi hỏi và niềm khao khát về nhà.

Và thế đó, như chúng rụt rè và háo hức và bướng bỉnh lơ lửng giữa bầu trời và mặt đất, cũng như thế linh hồn của con người cũng rụt rè, háo hức và bướng bỉnh lửng lơ giữa thời gian và vĩnh cửu.“
Ôi mây ơi, đẹp đẽ, bồng bềnh trôi chẳng nghỉ ngơi!

Khi tôi còn là cậu bé chưa hiểu biết tôi đã yêu mây, chăm chú ngước nhìn mà không biết rồi cũng như một đám mây tôi sẽ đi qua cuộc đời: ngao du, lạ lẫm khắp nơi, lửng lơ giữa thời gian và vĩnh cửu.

( Trích từ Peter Camenzind 1904)

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Die Wolken

Hermann Hesse (1877-1962)

„Zeigt mir in der weiten Welt den Mann, der die Wolken besser kennt und mehr lieb hat als ich! Oder zeigt mir das Ding in der Welt, das schöner ist als Wolken sind! Sie sind Spiel und Augentrost, sie sind Segen und Gottesgabe, sie sind Zorn und Todesmacht. Sie haben die Formen von seligen Inseln und die Formen von segnenden Engeln. Sie schweben zwischen Gottes Himmel und der armen Erde als schöne Gleichnisse aller Menschensehnsucht, beiden angehörig – Träume der Erde, in welchen sie ihre befleckte Seele an den reinen Himmel schmiegt. Sie sind das ewige Sinnbild alles Wanderns, alles Suchens, Verlangens und Heimbegehrens.

Und so, wie sie zwischen Erde und Himmel zag und sehnend und trotzig hängen, so hängen zag und sehnend und trotzig die Seelen der Menschen zwischen Zeit und Ewigkeit.“
Oh, die Wolken, die schönen, schwebenden, rastlosen!

Ich war ein unwissendes Kind und liebte sie, schaute sie an und wußte nicht, daß auch ich als eine Wolke durchs Leben gehen würde – wandernd, überall fremd, schwebend zwischen Zeit und Ewigkeit.

(Aus: Peter Camenzind 1904)

Chú thích của người dịch:
Hermann Hesse: (Hermann Karl Hesse, cũng dưới bút danh Emil Sinclair, 1877 - † 1962) nhà văn, nhà thơ và họa sĩ. Ông nổi tiếng thế giới với những tác phẩm văn xuôi Siddhartha hoặc Steppenwolf (Sói thảo nguyên) cũng như với những bài thơ như bài Stufen (Những bậc thang). Năm 1946 Hesse nhận giải thưởng Nobel văn chương và Huân chương Pour le mérite của Viện Hàn lâm Nghệ thuật.
Tiểu sử: Hermann Hesse sinh ngày 02 tháng 7 năm 1877 tại Calw, Württemberg. * Học trường Latin ở Calw và học trường dòng tại tu viện Maulbronn, nhưng bỏ học sau vài tháng. * Sau khi học hết bậc phổ thông, học thợ cơ khí đồng hồ, nghề bán sách và sáng tác văn học. * Năm 1899 xuất bản tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn. * Hoàn thành tiểu thuyết mang lại thành công nghề nghiệp Peter Camenzind (1904). * Kết hôn với Mari Bernouli người Thụy sĩ và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee. * 1911 tiến hành một chuyến du hành Đông Á. * Từ 1912 sống tại Bern. * Năm 1919 xuất bản tiểu thuyết nổi tiếng Demian, cũng trong năm đó ông chuyển về sống một mình tại Montaglona (Tessin).* Ly hôn và kết hôn với Ruth Wenger. * Tác phẩm danh tiếng nhất của ông Steppenwolf xuất bản vào năm 1927, nhân dịp sinh nhật tuổi 50. * Năm 1931 kết hôn lần thứ ba với Ninon Dolbin. * 1924 trở thành công dân mang quốc tịch Thụy Sĩ. * Trong thế chiến II, năm 1943 ông hoàn thành tác phẩm Das Glasperlenspiel. * Năm 1946 Nhận giải thưởng Nobel văn chương. * Hermann Hesse mất tại Montaglona ngày 09.08.1962.
Tác phẩm:
Thơ:
– Những bài ca lãng mạn (Romantische Lieder, 1899), thơ
– Thơ (Gedichte, 1902), thơ
– Trên đường (Unterwegs, 1911), thơ
– Thơ của người họa sĩ (Gedichte des Malers, 1920), thơ
– Thơ tuyển (Ausgewählte Gedichte, 1921), thơ
– Khủng hoảng: Nhật ký (Krisis : Ein Stück Tagebuch, 1928), thơ
– Sự an ủi của đêm (Trost der Nacht, 1929), thơ
– Thơ mới (Neue Gedichte, 1937), thơ
– Thơ (Gedichte, 1942), thơ
Văn xuôi:
- Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết, Tuổi trẻ và cô đơn, Vũ Đình Lưu dịch.
- Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết.
- Tuổi trẻ băn khoăn (Demian, 1917), truyện dài, Hoài Khanh dịch.
- Siddhartha (1920), tiểu thuyết được Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch dưới tiêu đề Câu chuyện dòng sông.
- Sói thảo nguyên (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.
- Đôi bạn chân tình (Narziss und Goldmund), Vũ Đình Lưu dịch.
- Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết.
- Trò chơi hạt cườm pha lê (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.

Tranh của Afred Sisley (1829-1899): Họa sĩ người Anh, đại diện quan trọng của chủ nghĩa Ấn tượng Pháp.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...