Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2021

Tuyết mới

Christian Morgenstern (1871-1914)    




Lần đầu in thành viền sương giá
Bằng vết giầy đầy vẻ bí huyền,
Vẹt một lối đi mảnh đầu tiên
Qua dải bãi trắng trinh của đồng tuyết –

Khởi đầu đó ngây thơ và ngon tuyệt,
Khi quanh trán anh rừng gió lao xao
Hay với những tháp băng chói nắng
Gửi hồn anh những lấp lánh chào.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Neuschnee

Christian Morgenstern (1871-1914)

Flockenflaum zum ersten Mal zu prägen
mit des Schuhs geheimnisvoller Spur,
einen ersten schmalen Pfad zu schrägen
durch des Schneefelds jungfräuliche Flur -

Kindisch ist und köstlich solch Beginnen,
wenn der Wald dir um die Stirne rauscht
oder mit bestrahlten Gletscherzinnen
deine Seele leuchtende Grüße tauscht.

Chú thích của người dịch:

Christian Morgenstern (1871 - 1914): Nhà thơ, nhà văn và dịch giả người Đức.

Tranh của Alfred Sisley (1839-1899): Họa sĩ phái Ấn tượng Pháp.

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2021

Xoay quanh tất cả

Ulrich Greiner  



Trong lời bạt về di cảo của Else Lasker-Schüler, người xuất bản bút tích – nhà văn Werner Kraft kết bạn với bà – kể rằng cuối đời, nữ thi sĩ hoài nghi về đức tin của mình đối với Thượng đế (bà đã di cư từ lâu tới Palestine khi đó) đã đi tới một vị Rabbi và hỏi ông ta:

Ở đây chỉ còn chúng ta với nhau, thế ông có tin vào Thượng đế không?

Chính sự hoài nghi này, vâng, bị cuộc Tận thiêu chỉ đào khoét sâu hơn, hẳn đã giày vò bà ngay từ những năm đời tuổi trẻ. Năm tháng đó đã thai nghén bài thơ „Tận thế“ lần đầu xuất bản năm 1903. Khi đó bà vừa bắt đầu vào tuổi ba mươi.

Người ta hầu như không có thể hình dung ra một bước nhập vào bài thơ quyết đoán hơn, mạnh mẽ hơn. Như với tiếng kèn đồng của ngày phán xử cuối cùng bài thơ bắt đầu:

Có một tiếng khóc trên thế giới
như thể Thượng đế yêu từ trần,

Than và Khóc là một mô-tip luôn luôn trở lại của lịch sử Do thái tràn ngập trong các bài thánh thi và sách của những nhà tiên tri. Trong chương „Hiob“ của Kinh Thánh ta bắt gặp:

Cây đàn thụ cầm của tôi thành tiếng than và cây sáo của tôi thành tiếng khóc.

Câu đó cất lên như tóm lược của bài thơ này.

Nhưng Else Laslker-Schüler, vốn người cháu gái của một vị Đại Rabbi và lớn lên trong một gia đình tư sản Đức-Do thái vùng Elberfeld đã chẳng những không sống theo khuôn mẫu của tư sản, mà còn không theo luôn khuôn khổ Do thái. Bà sống (như mọi người đương thời kể lại) trong một thế giới cổ tích do chính mình tạo nên và ăn vận những phục trang theo phóng tưởng.

Và ở dòng thứ hai, như trong truyện cổ tích bà nói về „Thượng đế yêu“. Điều này không hàm ý nghĩa châm chích. Bà là người hoàn toàn không phải là một người châm chích, và ở giữa bài thơ, ở dòng thơ tuyệt kỳ „ Nào, sát nhau hơn ta ẩn tránh…“, cái ước vọng con trẻ muốn được chở che và an ủi hoàn toàn hiện rõ. Về hình thức ta thấy, như hai con người yêu ân ái nằm chôn quấn quyện lấy nhau, như trẻ con tìm sự cứu vớt trước một tai ương. Tai ương nằm ở đâu cơ? Hoàn toàn hiển nhiên trong sự thiếu thốn của tình yêu:

Cuộc đời ở trong tim mọi người
Như trong quan tài.

Như một cây cầu đàn hồi, bài thơ chăng mắc giữa những thái cực quyết liệt: đây là không khí tàn tận, đó là tiếng kêu đòi sự quan tâm; ở đây là Thượng đế đã chết, bóng đổ nặng chì và nấm mộ, đó là sự ôm nhau và những cái hôn. Nhưng mà chiếc cầu này không trụ được, nếu như không có hình thức cấp thiết đáp ứng. Kích thước câu dòng biến đổi không nhận biết và cấp cho sự cuồng nhiệt của nó một trọng lượng đặc biệt. Nhịp điệu bay bổng của khổ thứ nhất kết thúc thực nặng như mộ phần.

Nghệ thuật lớn của bài thơ nhỏ này nằm ở chỗ cho phép ta đọc như sự sắp xếp tuần tự một cách phi nghệ thuật các câu cùng hệ, hối thúc bởi một cùng quẫn lớn và một hy vọng lớn. Sự kết thúc của thế giới ở phía trước, nhưng chúng ta vẫn còn cơ hội của tình yêu. Sự cùng quẫn là cùng quẫn của nhân loại, và cơ may là một thứ hoàn toàn thầm kín. Cơ may đó thực hiện trong cái Anh:

Anh ơi, ta muốn hôn nhau nồng nàn…

Và cũng như thế chúng ta sống ngày hôm nay vâng, một trăm năm sau: bị săn đuổi bởi những ảnh hình hồng thủy thường xuyên đón nhận từ các phương tiện truyền thông, dựng lại (hy vọng thế) trong thoáng gần gũi tràn đầy tình yêu. Nhưng với cái đó bài thơ không dừng lại, mà là:

Một nỗi nhớ nhung gõ cửa trần gian
Vì lẽ đó chúng ta phải chết.

Đây đó lại về cái mới, cả hai thái cực : Phải chết và nỗi nhớ nhung cuộc đời được sống thực sự.

„Tận thế“ là một bài thơ thống thiết tới đường lằn ranh của chịu đựng, và chúng ta vui lòng chịu đựng bài thơ đó, nguyên nỗi riêng nằm ở cái âm hưởng vui-buồn, tối-sáng này của Else Lasker-Schüler. Hẳn thế bà là nữ thi sĩ Đức quan trọng nhất. Trong mọi trường hợp bất luận, „Tận thế“ của bà gần gụi với chúng ta hơn là bài thơ „Tận thế“ được viết bảy năm sau đó thường được trích dẫn của nhà thơ Jakob van Hoddis cũng mang tầm vóc lớn như vậy:

Kia người thị dân mũ bay khỏi cái đầu nhọn!

Với Else Lasker- Schüler sự thể không còn xoay quanh chiếc mũ nữa, mà là tất cả.

©® PhạmKỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức 

Nguồn: Ulrich Greiner, aus Marcel Reich-Ranicki (Hrsg.): Frankfurter Anthologie. Vierunddreißigster Band, Insel Verlag, 2011

TẬN THẾ

Else Lasker-Schüler (1869-1945)

Có một tiếng khóc trên thế giới
như thể Thượng đế yêu từ trần,
và sập bóng chì đen đè xuống
nặng tựa mộ phần

Nào! Ta muốn sát nhau hơn ẩn náu.
Cuộc đời ở trong tim mọi người
như trong quan tài.

Anh ơi, chúng mình muốn hôn nhau nồng nàn -
Một nỗi nhớ nhung gõ cửa trần gian
Vì lẽ đó chúng ta phải chết.

Nguyên tác tiếng Đức:

WELTENDE

Else Lasker-Schüler (1869-1945)

Es ist ein Weinen in der Welt,
Als ob der liebe Gott gestorben wär,
Und der bleierne Schatten, der niederfällt,
Lastet grabesschwer.

Komm, wir wollen uns näher verbergen…
Das Leben liegt in aller Herzen
Wie in Särgen.

Du! wir wollen uns tief küssen –
Es pocht eine Sehnsucht an die Welt,
An der wir sterben müssen.

Chú thích của người dịch:
Ulrich Greiner (sinh năm 1945): Nhà báo và nhà phê bình văn học người Đức.

Else Lasker-Schüler (tên khai sinh Elisabeth Lasker-Schüler; * sinh ngày 11.02 1869 tại Elberfeld, nay là Wuppertal; † 22. 01 1945 tại Jerusalem), nữ thi sĩ lớn thế kỷ 20, người Đức gốc Do thái, đại diện kiệt xuất của trường phái Hiện đại tiền phong và của Chủ nghĩa Biểu hiện trong văn chương.

Tranh của Ernst Ludwig Kirchner (1880-1937): Họa sĩ, nhà đồ họa, đại diện hàng đầu của Chủ nghĩa Biểu hiện (Expressionism) Đức, sáng lập viên nhóm Cây cầu (Brücke). Năm 1937 bị chế độ Quốc xã đấu tố xếp vào nghệ thuật suy đồi, bán và hủy 600 tác phẩm, một năm sau ông dùng súng tự sát.

Thứ Sáu, 17 tháng 9, 2021

An ủi

Theodor Fontane (1819 – 1898)   




Hãy tự an ủi mình, giờ khắc vội,
Và mặc những gì đè nặng lòng anh,
Giờ tệ nhất cũng không thể nán quanh,
Và rồi đó một ngày khác đến.

Trong cái đến và đi miên viễn
Có nỗi đau có hạnh phúc xen kề,
Và cả những ảnh hình rạng rỡ
Hướng tới anh cũng tìm lối trở về.

Hãy hy vọng, kiên gan. Tiếng đập
từng giờ, anh đếm chẳng hoài hơi:
Đổi thay là vận hạn của cuộc đời,
Và rồi đó một ngày khác đến.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Trost

Theodor Fontane (1819 – 1898)

Tröste dich, die Stunden eilen,
Und was all dich drücken mag,
Auch die schlimmste kann nicht weilen,
Und es kommt ein andrer Tag.

In dem ew'gen Kommen, Schwinden,
Wie der Schmerz liegt auch das Glück,
Und auch heitre Bilder finden
Ihren Weg zu dir zurück.

Harre, hoffe. Nicht vergebens
zählest du der Stunden Schlag:
Wechsel ist das Los des Lebens,
Und - es kommt ein andrer Tag.

Chú thích của người dịch:
Theodor Fontane (1819 – 1898): Nhà văn, nhà thơ, nhà báo và nhà phê bình, đại diện quan trọng của Chủ nghĩa Hiện thực thế kỷ 19.

Tranh của Carl Spitzweg (1808-1885): Họa sĩ Đức, có vị trí biệt lập trong hội họa.

Chủ Nhật, 12 tháng 9, 2021

Ba cánh cửa của lưu đày

Ruth Klüger    



Từ ba cánh cửa, cả ba được nhấn mạnh như từ vận đứng cuối từng câu thơ tương ứng, một cửa dẫn xuống dưới vào tầng hầm, cửa thứ hai lên cao vào cõi trời, và cửa thứ ba, „bàn phím “ nằm ở giữa hai cửa kia, trực tiếp dẫn tới cái Nơi đây và Hiện giờ bị giày vò của người lên tiếng không biết đi đâu với cuộc đời mình. Một sáng tạo từ mới ẩn hiện chỉ dẫn về giấc mơ và thời thơ ấu như cội nguồn của những ảnh hình này.

„Đàn dương cầm xanh của tôi“ ra đời tại Thụy Sĩ trước năm 1936, cuộc lưu vong đầu tiên của nữ thi sĩ và được xuất bản năm 1937 trong tờ nhật báo Paris, một tờ báo của những người tha hương Đức. Như vậy đó là một bài thơ về Lưu vong, không phải bài thơ về Chiến tranh và hoàn toàn không phải một bài thơ về Tận thiêu. Trong dạng thành sách bài thơ được xuất bản năm 1943 tại Jerusalem, thành phố nơi hai năm sau Else-Lasker-Schüler mất trước khi chiến tranh kết thúc. Bà cũng không được ở nhà nơi đó – bà sống trong lưu vong, không phải trong chế độ nhập cư. Ở nhà – đó là một địa phần, nơi một chiếc đàn dương cầm xanh đứng đó.

Tại sao màu xanh? Thuộc về lãnh địa của xanh dương là bầu trời, mùa xuân, hoa của trào Lãng mạn và Franz Marc người bạn quá cố thuộc nhóm Kỵ sĩ xanh của Lasker-Schüler. Ngược lại, đàn dương cầm chắc chắn không thuộc về nơi đó, bởi vì thường ra phần lớn chúng màu đen – ít ra đàn làm cho người lớn là như vậy. Nhưng ta thấy trong Nhật ký Zürich của Else Lasker-Schüler viết:
„Tôi vẫn còn giữ tất cả những món đồ chơi của tôi từ ngày xưa, cả chiếc đàn dương cầm xanh dành cho búp bê.“ Ở trong bài thơ, từ một hồi tưởng thơ ấu trở thành một nhạc cụ mang tính biểu tượng cho những bàn tay sao trời ở bên trên và những bàn chân chuột cống dưới đó. Nữ thi sĩ ở giữa không biết nốt nhạc. Như vậy không hề là nghệ thuật của riêng tư được đề cập tới ở đây, bởi vì đúng thế bà chế ngự nghệ thuật này. Bài thơ tiếc thương một mất mát vượt qua ranh giới cá nhân, mà tuy nhiên việc tưởng niệm này xảy ra theo một cung cách sao mà mang tính chủ quan đến mức nghe như một sự khóc than của một đứa trẻ bị hành hạ. Chúng ta mỉm cười về cái „bàn phím“, và nàng trăng trong thuyền bước ra từ truyện cổ tích hay đó là một mặt nạ của nữ tác giả đã thích thú vẽ trăng liềm vào những bút tích của mình. Có điều trong biến thể đầu tiên nàng trăng là một bé trăng. Trẻ thơ cũng là thao tác, nhân cách hóa một đồ vật đã tan vỡ và khóc thương nó như một người đàn bà màu xanh đã chết..

Bên trên tiếng khóc thút thít của trẻ thơ lơ lửng một tai họa lớn của „thế giới hung bạo“. Con người héo hắt và tuyệt vọng muốn trốn thoát ra khỏi thế giới tai họa này, và đi đâu cơ nếu không phải là lên trời? „Đàn dương cầm xanh của tôi“ tuy thế không phải là bài thơ về tự sát: Người nữ nói đã nài nỉ các thiên thần một cách phi lý rằng hãy mở cánh cổng trời cho bà khi còn đang sống. Bà xác chứng bản thân bằng „bánh mì cay đắng“ bà đã từng nếm vị. Có thể bánh đó được cắt ra từ chính chiếc bánh như „bánh mì thấm nước mắt“, thông qua đó người chơi đàn thụ cầm của Goethe (1) đã làm quen những thế lực nơi thượng giới.

Cái từ“ Điều cấm“ khiến bài thơ dần tắt làm ta giật thót mình. Những người chạy nạn đã từng biết những cánh cửa đóng kín nơi biên giới các nước. Bây giờ cần phải hủy bỏ ở đây một điều cấm nhập cảnh tối cao và bất biến. Liệu có động chạm tới một một sự gia tăng cuối cùng của những điều cấm nọ ở dưới trần gian? Những luật lệ nhập cư nghiêm ngặt có hiệu lực cũng thế đối với vương quốc triều thiên, và người nữ thỉnh nguyện uổng công nguyện cầu.

Người ta ngần ngại gọi một bài thơ rón rén thu mình lại và cất tiếng với một giọng nói than van, nhỏ nhẹ là „vĩ đại“. Và tuy nhiên bên cạnh bài thơ của Brecht „Gửi người hậu thế“ cũng ra đời từ những năm ba mươi, „Đàn dương cầm xanh của tôi“ đương nhiên là chứng chỉ thơ ca thuyết phục nhất về lưu vong thời Quốc xã. Ở đâu Brecht, một cách mạnh mẽ và nam nhi sục sôi đòi quyền căm hờn và trách nhiệm tranh đấu, nơi đó Lasker- Schüler tiếc than một nền văn minh đắm chìm bằng ngôn ngữ đặc thù khí chất của người cô đơn, với sự kết nối chỉ riêng bà có được giữa cuồng điên và khôi hài, trí tưởng và tự trình diễn giữ khoảng cách. Nơi nào Brecht, đứng ở bục diễn giả của công luận phán quyết sự cực khổ muôn bề về một tên gọi chung gọi là phản kháng, ở đó Else Lasker-Schüler đã biểu đạt trực quan bằng cách bà trình diễn cho chúng ta xem trong nhà hát mặt nạ của đau khổ riêng tư.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Nguồn: Ruth Klüger, aus Marcel Reich-Ranicki (Hrsg.): Frankfurter Anthologie. Einundzwanzigster Band, Insel Verlag, 1998

Đàn dương cầm xanh của tôi

Else Lasker-Schüler (1869 -1945)

Ở nhà tôi có chiếc đàn dương cầm
màu xanh, và tôi nào biết nốt ký âm.

Đàn nằm trong vách tối cửa hầm,
Từ dạo đó thế giới này hung bạo.

Bốn bàn tay sao trời chơi dạo
- Nàng mặt trăng đã hát ở trên thuyền -
Bây giờ lũ chuột nhảy múa lanh canh.

Bàn phím vỡ tan tành…
Tôi khóc người đàn bà chết màu xanh.

- Tôi từng ăn bánh mì cay đắng -
Dẫu cho vi phạm vào điều cấm,
Hỡi thiên thần hãy mở cho tôi
đang sống đây, cánh cửa lên trời.

Nguyên tác tiếng Đức

Mein blaues Klavier

Else Lasker-Schüler (1869 -1945)

Ich habe zu Hause ein blaues Klavier
Und kenne doch keine Note.

Es steht im Dunkel der Kellertür,
Seitdem die Welt verrohte.

Es spielen Sternenhände vier
– Die Mondfrau sang im Boote –
Nun tanzen die Ratten im Geklirr.

Zerbrochen ist die Klaviatur…
Ich beweine die blaue Tote.

Ach liebe Engel öffnet mir
– Ich aß vom bitteren Brote –
Mir lebend schon die Himmelstür –
Auch wider dem Verbote.

Chú thích của người dịch:
(1) Bài hát của người chơi đàn thụ cầm - Lied des Harfners – J. W Goethe.

Ruth Klüger (1931-2020) : Nhà nghiên cứu văn học, nhà văn người Áo-Mỹ, bà đã sống qua cuộc Tận thiêu (Holocaust)

Else Lasker-Schüler (tên khai sinh Elisabeth Lasker-Schüler; * sinh ngày 11.02 1869 tại Elberfeld, nay là Wuppertal; † 22. 01 1945 tại Jerusalem), nữ thi sĩ lớn thế kỷ 20, người Đức gốc Do thái, đại diện kiệt xuất của trường phái Hiện đại tiền phong và của Chủ nghĩa Biểu hiện trong văn chương.

Tranh của August Macke (1887-1914): họa sĩ Biểu hiện Đức, thuộc nhóm họa sĩ xung quanh tờ Kỵ sĩ xanh.

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2021

Một bài tình ca

Else Lasker-Schüler (1869 -1945)    




Hãy đến với em trong đêm - ta ngủ ôm riết lấy nhau.
Em rất mệt, cô đơn từ thức giấc.
Trong tối tinh mơ một con chim lạ đã hát,
Khi giấc mơ còn vật vã và giành giật với em.

Trước mọi suối nguồn hoa mở cánh xem
Và phối sắc màu của mắt em, hoa cúc bất tử…

Hãy đến với em trên đôi hài của bảy vì tinh tú
Đêm khuya gói ghém tình yêu vào ngôi lều của em.
Từ những cái rương trời bụi bặm những vầng trăng mọc lên.

Như hai con thú kỳ lạ, ta muốn nằm no nê tình ái
Trong bụi sậy cao, khuất sau thế giới này.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Ein Liebeslied

Else Lasker-Schüler (1869 -1945)

Komm zu mir in der Nacht – wir schlafen engverschlungen.
Müde bin ich sehr, vom Wachen einsam.
Ein fremder Vogel hat in dunkler Frühe schon gesungen,
Als noch mein Traum mit sich und mir gerungen.

Es öffnen Blumen sich vor allen Quellen
Und färben sich mit deiner Augen Immortellen…

Komm zu mir in der Nacht auf Siebensternenschuhen
Und Liebe eingehüllt spät in mein Zelt.
Es steigen Monde aus verstaubten Himmelstruhen.

Wir wollen wie zwei seltene Tiere liebesruhen
Im hohen Rohre hinter dieser Welt.

Chú thích của người dịch:

Else Lasker-Schüler (tên khai sinh Elisabeth Lasker-Schüler; * sinh ngày 11.02 1869 tại Elberfeld, nay là Wuppertal; † 22. 01 1945 tại Jerusalem), nữ thi sĩ lớn thế kỷ 20, người Đức gốc Do thái, đại diện kiệt xuất của trường phái Hiện đại tiền phong và của Chủ nghĩa Biểu hiện trong văn chương.


Tranh của Ernst Ludwig Kirchner (1880-1937): Họa sĩ, nhà đồ họa, đại diện hàng đầu của Chủ nghĩa Biểu hiện (Expressionism) Đức, sáng lập viên nhóm Cây cầu (Brücke). Năm 1937 bị chế độ Quốc xã đấu tố xếp vào nghệ thuật suy đồi, bán và hủy 600 tác phẩm, một năm sau ông dùng súng tự sát.

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2021

Đàn dương cầm xanh của tôi

Else Lasker-Schüler (1869 -1945)   



Ở nhà tôi có chiếc đàn dương cầm
màu xanh, và tôi nào biết nốt ký âm.

Đàn nằm trong vách tối cửa hầm,
Từ dạo đó thế giới này hung bạo.

Bốn bàn tay sao trời chơi dạo
- Nàng mặt trăng đã hát ở trên thuyền -
Bây giờ lũ chuột nhảy múa lanh canh.

Bàn phím vỡ tan tành…
Tôi khóc người đàn bà chết màu xanh.

- Tôi từng ăn bánh mì cay đắng -
Dẫu cho vi phạm vào điều cấm,
Hỡi thiên thần hãy mở cho tôi
đang sống đây, cánh cửa lên trời.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Mein blaues Klavier

Else Lasker-Schüler (1869 -1945)

Ich habe zu Hause ein blaues Klavier
Und kenne doch keine Note.

Es steht im Dunkel der Kellertür,
Seitdem die Welt verrohte.

Es spielen Sternenhände vier
– Die Mondfrau sang im Boote –
Nun tanzen die Ratten im Geklirr.

Zerbrochen ist die Klaviatur…
Ich beweine die blaue Tote.

Ach liebe Engel öffnet mir
– Ich aß vom bitteren Brote –
Mir lebend schon die Himmelstür –
Auch wider dem Verbote.

Chú thích của người dịch

Else Lasker-Schüler (tên khai sinh Elisabeth Lasker-Schüler; * sinh ngày 11.02 1869 tại Elberfeld, nay là Wuppertal; † 22. 01 1945 tại Jerusalem), nữ thi sĩ lớn thế kỷ 20, người Đức gốc Do thái, đại diện kiệt xuất của trường phái Hiện đại tiền phong và của Chủ nghĩa Biểu hiện trong văn chương.

Tranh của Marc Chagall (1887-1985): Họa sĩ Pháp người Do thái, gốc Nga - Ba lan.

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2021

Hoàng tử của những ân huệ ban cho người thi sĩ

Eckhard Heftrich  



Năm 1945 bà mất tại Jerusalem. Một người xa lạ cũng chết ở đó, nơi xưa kia trong trí tưởng tượng bà đã phát minh cho mình một trong nhiều những chốn quê hương, cũng là nơi cuối cùng kẻ bị xua đuổi như bà đã tìm ra nơi nương náu. Năm mươi năm sau người đời khó có thể đồng cảm được việc sau kết cục thời gian mười hai năm chạy trốn có cơ sở dấy lên nghi ngại rằng những câu thơ của bà „ đôi phần rơi vào quên lãng“. Năm 1948 Friedhelm Kemp viết như thế tại miền đất cao nguyên. Một sự tình cờ khoái hoạt đã khiến một bản sao của tập thơ cuối „Cây đàn dương cầm xanh của tôi“ xuất bản vào năm 1943 tại Jerusalem lọt vào tay ông và nhắc nhở „ hãy dâng cống vật của tình yêu và sự biết ơn cho người chị em sinh sau đẻ muộn của Debohra và Sulamit“.

Sự biết ơn không chỉ bao gồm một bài tiểu luận ngắn, ở đó với sự cảm nhận sâu sắc người ta có được sự phân biệt giữa vàng ròng của thơ ca và sự lóng lánh của vàng mã đính viền trang phục tạp kỹ, cũng là một sự phân biệt sau này thiếu vắng hẳn nơi người diễn giải bị choáng ngợp bởi hào quang của danh vọng người quá cố. Thậm chí việc in ấn bốn bài thơ vào năm 1947 được coi là sự tri ân nữa. Một trong bốn là bài ca này. Điều gì được thông báo trong tiểu luận về nữ thi sĩ, Kemp gọi „ một cách đầy cẩn trọng là một người Do thái“ hay „đúng hơn một người Hebrew, chỉ riêng điều đó phải chăng đã đủ đánh thức được mối quan tâm của người đọc say mê dạo đó mới 20 tuổi đối với người nữ sĩ ông không hề biết tới. Càng hơn thế, khi dạo đó người đọc cũng vừa dò dẫm ngạc nhiên phát hiện ra rằng, văn chương bị trừ khử hay bị phỉ báng sau 1933, từng xuất hiện ở thời xa xưa không định kiến vào đầu phần ba thế kỷ kể cả sau khi đế chế Hitler sụp đổ vẫn làm nên phần quan trọng nhất của văn chương đương đại.

Âm hưởng bất ngờ của những câu thơ mà thế mạnh hơn tin báo về số phận người nữ thi sĩ. Hơn thế giai điệu của bài ca tình yêu đã gây xúc động người mới 20 tuổi mạnh mẽ tới mức suốt một cuộc đời ông ấp ủ trong tai mình. Sau nhiều thập kỷ hồi tưởng lại giai điệu, ông ngộ ra tại sao dạo đó giai điệu đã hút hồn ông như một phép lạ. Nó bay bổng với sự phá niêm luật của hai câu thơ chấm phá đầu tiên. Nếu xung xuất một cách chuẩn mực với vận luật ngự trị trong 9 của 11 dòng thơ, thì bài thơ lẽ ra phải bắt đầu: đến đây trong đêm… và một người thợ rèn giũa câu thơ những phải có thể đi tiếp: từ sự thức dậy cô đơn… Nhưng ngay cả với Eichendorf, cứ cho là thế, thì sau đó âm nhạc có thể bị đe dọa bởi tiếng lách cách của cái nhịp khởi xướng. Nhưng như thế người ta nghe thấy ngay đầu tiên tiếng gọi quyến rũ của nhớ nhung từ nơi xa đến. Bởi chưng buổi tinh mơ tăm tối của giấc mơ hàm ý không chỉ đêm đã qua và sự bắt đầu của sự thức dậy.

Không phải trong lúc thức giấc, mà cô đơn từ sự tỉnh giấc: chính vì thế „cô đơn“ là từ duy nhất của các từ đứng cuối các dòng thơ không có sự đáp lại của vần. Rằng „ suối nguồn“ (Quellen) gây ra tiếng vọng của „ cúc bất tử“ (Immortellen), kể ra cũng ít nhiều có được do ép vần. Nhưng ai được nàng Thơ ban phước, không việc gì phải sợ sự khiên cưỡng như vậy, người đó được phép tuân theo. Người đó không cần phải bối rối vì việc hoa cúc bất tử là loại hoa kể ra giữ được lâu đấy nhưng cọng khô như rơm; nên người đó được phép một mình nán lại ở chỗ những bông hoa kết thành vòng nơi mộ chí đứng vững cho niềm hy vọng về bất tử.

Giấc mơ ở đây gọi hiện lên qua khúc hát là giấc mộng cổ tích vĩnh cửu của tình yêu và không thuộc về thế giới này. Cái sinh thể được yêu của giờ khắc vô thời đằng sau thế giới không một lần đi đôi hài bảy dặm của cổ tích mà là đôi hài của tinh tú; và không có mũ che kín mặt mà chỉ có tình yêu tránh né những cái nhìn săm soi ác ý. Nếu như hoàng tử này được ban ân sủng của thi sĩ tới đây thì những chiếc rương trên đó chất bụi dày năm tháng sẽ mở ra cho những chuyện thần tiên thường ra không ai tin vào đó. Trong vương quốc diệu kỳ của những vầng trăng đêm đó sự ái ân không là rạo rực và sáng tạo, mà là sự bình an của thiên đường trước tội tổ tông. Những con thú kỳ lạ thuận về bình an đó không phải là những sinh linh do thiên nhiên tạo ra, mà là những sinh thể như người bạn Franz Marc, trong những năm trai trẻ được Else Lasker – Schüler gọi là „kỵ sĩ xanh của vàng ròng“ đã sáng tạo nên.

Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức.
Nguồn: Eckhard Heftrich, aus Marcel Reich-Ranicki (Hrsg.): Frankfurter Anthologie. Neunzehnter Band, Insel Verlag, 1996

Một bài tình ca

Else Lasker-Schüler (1869 -1945)

Hãy đến với em trong đêm - ta ngủ ôm chặt nhau
Em rất mệt, cô đơn từ thức giấc
Trong tối tinh mơ một con chim lạ đã hát
Khi giấc mơ còn vật vã và giành giật với em.

Trước mọi nguồn hoa mở cánh xem
Và phối sắc màu của mắt em, hoa cúc bất tử…

Hãy đến với em trên đôi hài của bảy vì tinh tú
Đêm khuya gói ghém tình yêu vào ngôi lều của em.
Từ những cái rương trời bụi bặm những vầng trăng mọc lên.

Như hai con thú kỳ lạ, ta muốn nằm no nê tình ái
Trong bụi lau cao, khuất sau thế giới này.

Nguyên tác tiếng Đức:

Ein Liebeslied

Else Lasker-Schüler (1869 -1945)

Komm zu mir in der Nacht – wir schlafen engverschlungen.
Müde bin ich sehr, vom Wachen einsam.
Ein fremder Vogel hat in dunkler Frühe schon gesungen,
Als noch mein Traum mit sich und mir gerungen.

Es öffnen Blumen sich vor allen Quellen
Und färben sich mit deiner Augen Immortellen…

Komm zu mir in der Nacht auf Siebensternenschuhen
Und Liebe eingehüllt spät in mein Zelt.
Es steigen Monde aus verstaubten Himmelstruhen.

Wir wollen wie zwei seltene Tiere liebesruhen
Im hohen Rohre hinter dieser Welt.

Chú thích của người dịch:

(1) Friedhelm Kemp (1914-2011): Nhà văn, nhà nghiên cứu văn học và dịch giả Đức.
(2) Joseph von Eichendorff (1788-1857): Nhà thơ, nhà văn quan trọng của trào Lãng mạn Đức.

Eckhard Heftrich (sinh năm 1928): Nhà nghiên cứu văn học Đức.

Else Lasker-Schüler (tên khai sinh Elisabeth Lasker-Schüler; * sinh ngày 11.02 1869 tại Elberfeld, nay là Wuppertal; † 22. 01 1945 tại Jerusalem), nữ thi sĩ lớn thế kỷ 20, người Đức gốc Do thái, đại diện kiệt xuất của trường phái Hiện đại tiền phong và của Chủ nghĩa Biểu hiện trong văn chương.

Tranh của Franz Marc (1880-1916): Họa sĩ Đức, đại diện quan trọng của phái Biểu hiện, bạn của Else Lasker-Schüler.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...