Thứ Hai, 4 tháng 10, 2021

Tôi không thể khác: tôi phải càu nhàu

Marcel Reich-Ranicki (1920 – 2013)   



(Kỷ niệm ngày ông mất nhắc lại những câu hay nhất của ông trong chương trình vô tuyến „Tứ tấu văn chương“ không thể nào quên – Süddeutsche Zeitung SZ)

Khởi đầu
Văn chương thế giới bao gồm các tiểu thuyết ra mắt. Luôn là như vậy còn gì: tiểu thuyết đầu tay là cuốn quan trọng nhất và sau thì không có gì tòi ra nữa cả. Cho nên, có lẽ ta kể Goethe mà xem, ông ta khởi đầu với một tiểu thuyết trình làng. Và cuốn đó rất tốt. (Tứ tấu văn chương ngày 14.1.1993)

Nhân chủng học
Thực ra trong văn chương tôi chỉ quan tâm tới riêng con người. Chuột và bò không khiến tôi thích thú. (18.2.1991)

Gottfried Benn
Một trong những câu ngu nhất xưa nay từ miệng một nhà thơ Đức lại phát xuất từ Benn: Mỗi một nhà thơ có 5 hay 6 bài hay. Tôi không biết tại sao cái câu này lại luôn được trích dẫn. Ở Goethe tôi tìm ra 56 hay 76 bài thơ hay. Và nơi Heine 16 hoặc 26 bài. (25.03.1988).

Tiểu thuyết Berlin
Hoàn toàn không có thứ đó. Cái thứ vô nghĩa đó là gì vậy. Rõ vớ vẩn! Quảng trường Alexanderplatz, không, không, không, không! Thế là Balzac đã viết nhiều tiểu thuyết diễn biến ở Paris, nhưng không có một cuốn tiểu thuyết Paris nào của Balzac. Berlin tất nhiên là Berlin, Alexanderplatz không là đề tài. Một cuốn tiểu thuyết chỉ ra những nghiệm trải, nõi khổ đau của con người. Một thành phố chỉ có thể cấp cho hoạt cảnh, bối cảnh. (5.3.1999)

Thomas Bernhard
Đại thể người ta không làm được văn chương mà không phóng đại. Những nhà văn cực lớn, vâng, họ là những nghệ sĩ cường điệu nguyên cốt. Một người như Shakespeare đã chuyên cường điệu như một gã liều đấy chứ. Sự phóng đại nơi Thomas Bernhard hoàn toàn tột đỉnh. (5.3.1999)

Thiên chúa giáo
Chương trình Tứ tấu văn chương không phải là cuộc hội hè trong khuôn khổ của Tuần lễ Tình Huynh đệ. Thứ gì tồi, là tồi, và điều đó phải được nói ra. (18.02.1991)

Hờ hững
Sao tôi lại phải đọc một cuốn sách về Calcutta nhỉ? Cá nhân tôi hoàn toàn không thích thú gì Calcutta. Nhưng nếu như tôi muốn đọc một cuốn sách về Calcutta, thì ấy thế không phải cuốn của một nhà thơ đi tới đó ở lại 3 hay 4 tháng nghiêng ngó tý chút. Anh ta đã nhìn thấy gì ở đó? Bẩn thỉu, Hôi hám, Cơ cực và Nghèo khó. Điều đó chúng ta hẳn đã biết. (30.09.1988)

Cảm nhận
Vấn đề không phải ở chỗ miêu tả những quá trình sinh lý, ai cũng có thể làm được điều đó. Không hề khó miêu tả một cái dương vật đi vào một âm đạo ra sao hoặc như một cái bút chì cắm vào cái túi bút. Vấn đề nằm ở chỗ chỉ ra người đàn bà hay là người đàn ông, hoặc hẳn cả hai cảm nhận gì trong lúc xảy ra chuyện đó. (10.03.1989)

Khêu gợi
Nếu như tôi đọc văn chương Đức của 20 năm gần đây, vâng (tôi thấy) nó không khêu gợi dễ sợ. Thí dụ như nhà văn lớn Thomas Bernhard – hoàn toàn không khêu gợi. Hay là Grass: thực tình luôn luôn không khêu gợi. Siegfried Lenz – luôn đã thế rồi. Martin Walser – gần như thường khi. Nếu dân tộc Đức phải thu xếp khăn gói theo các nhà văn của mình ngày hôm nay, có lẽ nó hoàn toàn không sinh sản thêm nữa. Người ta mới thấy ảnh hưởng của những nhà văn này ít ỏi như thế nào. (10.10.1991).

Địa hạt, một vùng rộng trải
Văn chương vô bổ, buồn tẻ và không thể đọc được. Không ai đòi hỏi Grass (Günter Grass) viết về sự tái thống nhất (nước Đức). Tôi khoái điều này hơn, nếu Grass những viết về tình yêu với bà vợ của mình. Tôi thích hơn là quan điểm của ông ta về sự thống nhất. (24.08.1995)

Thuyết nữ quyền
Cái bà Antonia Byatt không coi nghiên cứu văn học nữ quyền ra gì cả - riêng điều đó đã gây thiện cảm cho bà. Quỷ tha tôi đi, nếu như ông Karasek không đọc cái đó với sự thỏa mãn. Các vị hãy thú nhận đi! (13.05.1993)

Joseph Goebbels
Từ 10 hay 15 năm nay Günter Grass nói đi nói lại, nền phê bình của Đức tồi. Vâng cái đó người ta biết đến từ thời Lessing và mỗi một tác giả bị phỉ nhổ đều nhắc lại điều đó. Grass muốn các nhà phê bình chỉ nắm được thông tin về sách in. Joseph Goebbels, cho phép tôi nói đây, cũng muốn điều đó. Và cuối cùng phải dạy cho Grass biết đã đến lúc: Phê bình ngoài ra có chức năng thẩm định và đánh giá các tác phẩm văn chương. (24.8.1995)

Johann Wolfgang von Goethe
Quí vị biết, ai là người gây thiện cảm không? Walther von der Vogelweide. Bởi vì chúng ta không biết gì cả về ông này. Và nếu như chúng ta biết nhiều về một văn hào, thì người đó gây bất cảm tình một cách độc địa. Thomas Mann rất bất cảm tình. Brecht cũng tương tự thế. Heine cũng rất đáng ngờ và Goethe, ấy đấy ông ta không là nhân vật gây thiện cảm. (3.6.1988)

Nadine Gordimer
Về mặt nghệ thuật, sách của bà ấy non yếu khiến tôi muốn đánh cược, bà ta nhận được giải Nobel. Hơn nữa, vâng, bà ta còn thuộc giới tính nữ. (18.02.1991)

Peter Handke
Có những nhà văn Đức, nếu như họ giao cái đuối kém toàn tập cho nhà xuất bản của họ, thì nhà xuất bản chỉ có 2 khả năng: in ra hoặc gạt bỏ. Nhà xuất bản gạt bỏ, thì sau đó nhà văn nổi danh này đi đến một nhà xuất bản khác. Mười hai nhà xuất bản khác hạnh phúc, nếu họ vớ được Handke. Liệu một cuốn sách có hay hay là dở, thì điều này đối với chủ xuất bản chỉ là cân nhắc thứ yếu. Cái quyết định là: nó mang lại tiền hay là không mang lại tiền bạc? (24.8.1995).

Quê hương
Bẩm sinh tôi người Trung Âu. Tôi là và tôi muốn là Trung Âu và không ai có thể cấm tôi điều đó! Thế giới của tôi nằm giữa Athen và Dublin hay là giữa Lissabon và Stockholm. (15.12.1996)

Chó
Đó là Peter Handke, một tác giả, tôi nghĩ, từ nhiều năm nay đã nghĩ tới con chó, người ta có thể nói, con chó siêu hình. Và Botho Strauß lại nảy ra ý nghĩ về con chó tư tưởng. Ông ta viết ra cái vô nghĩa. (25.4.1997)

Ấn Độ
Tôi có thể dự báo trước cho quí vị, Martin Walser viết cái gì ở Calcutta: một cuốn tiểu thuyết về hồ Bodensee. (30.9.1988)

Ireland
Tôi có một ác cảm đối với văn học xứ Ireland. Tôi không chịu được cái đó, luôn là những đầm lầy và luôn uống bét nhè và giữa chừng ọe ra một ít. Sự khốn khổ và Công giáo ngái mùi. (15.12.1996)

James Joyce
Người ta biết rằng cuốn tiểu thuyết Ulycces được đánh giá quá cao tại Đức. Cuốn đó được đánh giá cao quá mức chính bởi hầu như chẳng ai đọc ông ta. (14.05.1990)

Franz Kafka
Nói riêng chúng ta với nhau: Tôi không thích côn trùng. Liệu đó có là Ruồi của Satre hay là thiên truyện của Kafka không thuộc về những thứ hay nhất của ông ấy. Côn trùng quyến rũ các tác gia. (31.03.1994)

Walter Kempowski
Kempowski là một tay sưu tập nửa vời, chăm chỉ, đã sưu tập được 4 tập và ta cám ơn Chúa, khi bộ sưu tập đã không trở thành 5. (24.02.1994)

Hồi tưởng thơ ấu
Thường là tẻ nhạt nhất trong văn chương. Vì thế cũng trong các tiểu sử tự thuật luôn bắt đầu sớm như thế, chương đầu thường là những chương yếu kém nhất. (23.08.1992)

Sahra Kirsch
Nếu như các vị biết, tôi khó nhọc ra sao khi đòi thơ của Sahra Kirsch, luôn lại phải gọi điện và viết thư cho bà ấy: Sarah ơi, tôi và toàn dân tộc Đức chờ những bài thơ tiếp của bà, bà không thể gửi chút gì ư? (26.12.1988)

(còn nữa)
©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức
Nguồn: SZ - »Ich kann nicht anders: Ich muss nörgeln«
Zum Tod von Marcel Reich-Ranicki: Seine besten Sätze aus der unvergessenen Fernsehsendung »Das Literarische Quartett«, von Anfang bis Zwist.

Chú thích của người dịch:
Marcel Reich-Ranicki (1920-2013): Nhà phê bình được vinh danh Giáo hòang văn học, nhà trước tác có ảnh hưởng lớn nhất đương đại trong khu vực nói tiếng Đức.

Tranh của Horst Janssen (1929-1995) họa sĩ, nhà đồ họa người Đức.

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

Phong cảnh mùa đông

Friedrich Hebbel (1813-1863)    




Miền trắng trải vươn ra vô tận tới
Hơi thở cuối của sự sống, rỗng không;
Những mạch đập rộn ràng từ lâu nghẽn, suối sông,
Đến gió lạnh cũng chẳng buồn lay động.

Trên non tuyết băng, vẫn con quạ sống,
Lỳ lợm và háu đói đào xuống tít sâu,
Và nó không bới ăn từ nhát mổ kia đâu!
Tôi e, nó đào xới chôn mình xuống huyệt.

Qua màn mây, lần nữa mặt trời lóe chớp,
Ném ánh nhìn cuối xuống miền đất bi ai,
Ngự trên ngai của sự sống, thế đó, đang ngáp dài,
Thần Chết ngạo mặt trời, mặc lễ phục trắng.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Winterlandschaft

Friedrich Hebbel (1813-1863)

Unendlich dehnt sie sich, die weiße Fläche,
bis auf den letzten Hauch von Leben leer;
die muntern Pulse stocken längst, die Bäche,
es regt sich selbst der kalte Wind nicht mehr.

Der Rabe dort, im Berg von Schnee und Eise,
erstarrt und hungrig, gräbt sich tief hinab,
und gräbt er nicht heraus den Bissen Speise,
so gräbt er, glaub' ich, sich hinein ins Grab.

Die Sonne, einmal noch durch Wolken blitzend,
wirft einen letzten Blick auf's öde Land,
doch, gähnend auf dem Thron des Lebens sitzend,
trotzt ihr der Tod im weißen Festgewand.

Chú thích của người dịch:

Friedrich Hebbel (1813-1863): Nhà thơ, kịch tác gia Đức.

Tranh của Claude Monet (1840-1926) Họa sĩ tiêu biểu và sáng tạo của phái Ấn tượng Pháp.

Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2021

Tuyết mới

Christian Morgenstern (1871-1914)    




Lần đầu in thành viền sương giá
Bằng vết giầy đầy vẻ bí huyền,
Vẹt một lối đi mảnh đầu tiên
Qua dải bãi trắng trinh của đồng tuyết –

Khởi đầu đó ngây thơ và ngon tuyệt,
Khi quanh trán anh rừng gió lao xao
Hay với những tháp băng chói nắng
Gửi hồn anh những lấp lánh chào.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Neuschnee

Christian Morgenstern (1871-1914)

Flockenflaum zum ersten Mal zu prägen
mit des Schuhs geheimnisvoller Spur,
einen ersten schmalen Pfad zu schrägen
durch des Schneefelds jungfräuliche Flur -

Kindisch ist und köstlich solch Beginnen,
wenn der Wald dir um die Stirne rauscht
oder mit bestrahlten Gletscherzinnen
deine Seele leuchtende Grüße tauscht.

Chú thích của người dịch:

Christian Morgenstern (1871 - 1914): Nhà thơ, nhà văn và dịch giả người Đức.

Tranh của Alfred Sisley (1839-1899): Họa sĩ phái Ấn tượng Pháp.

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2021

Xoay quanh tất cả

Ulrich Greiner  



Trong lời bạt về di cảo của Else Lasker-Schüler, người xuất bản bút tích – nhà văn Werner Kraft kết bạn với bà – kể rằng cuối đời, nữ thi sĩ hoài nghi về đức tin của mình đối với Thượng đế (bà đã di cư từ lâu tới Palestine khi đó) đã đi tới một vị Rabbi và hỏi ông ta:

Ở đây chỉ còn chúng ta với nhau, thế ông có tin vào Thượng đế không?

Chính sự hoài nghi này, vâng, bị cuộc Tận thiêu chỉ đào khoét sâu hơn, hẳn đã giày vò bà ngay từ những năm đời tuổi trẻ. Năm tháng đó đã thai nghén bài thơ „Tận thế“ lần đầu xuất bản năm 1903. Khi đó bà vừa bắt đầu vào tuổi ba mươi.

Người ta hầu như không có thể hình dung ra một bước nhập vào bài thơ quyết đoán hơn, mạnh mẽ hơn. Như với tiếng kèn đồng của ngày phán xử cuối cùng bài thơ bắt đầu:

Có một tiếng khóc trên thế giới
như thể Thượng đế yêu từ trần,

Than và Khóc là một mô-tip luôn luôn trở lại của lịch sử Do thái tràn ngập trong các bài thánh thi và sách của những nhà tiên tri. Trong chương „Hiob“ của Kinh Thánh ta bắt gặp:

Cây đàn thụ cầm của tôi thành tiếng than và cây sáo của tôi thành tiếng khóc.

Câu đó cất lên như tóm lược của bài thơ này.

Nhưng Else Laslker-Schüler, vốn người cháu gái của một vị Đại Rabbi và lớn lên trong một gia đình tư sản Đức-Do thái vùng Elberfeld đã chẳng những không sống theo khuôn mẫu của tư sản, mà còn không theo luôn khuôn khổ Do thái. Bà sống (như mọi người đương thời kể lại) trong một thế giới cổ tích do chính mình tạo nên và ăn vận những phục trang theo phóng tưởng.

Và ở dòng thứ hai, như trong truyện cổ tích bà nói về „Thượng đế yêu“. Điều này không hàm ý nghĩa châm chích. Bà là người hoàn toàn không phải là một người châm chích, và ở giữa bài thơ, ở dòng thơ tuyệt kỳ „ Nào, sát nhau hơn ta ẩn tránh…“, cái ước vọng con trẻ muốn được chở che và an ủi hoàn toàn hiện rõ. Về hình thức ta thấy, như hai con người yêu ân ái nằm chôn quấn quyện lấy nhau, như trẻ con tìm sự cứu vớt trước một tai ương. Tai ương nằm ở đâu cơ? Hoàn toàn hiển nhiên trong sự thiếu thốn của tình yêu:

Cuộc đời ở trong tim mọi người
Như trong quan tài.

Như một cây cầu đàn hồi, bài thơ chăng mắc giữa những thái cực quyết liệt: đây là không khí tàn tận, đó là tiếng kêu đòi sự quan tâm; ở đây là Thượng đế đã chết, bóng đổ nặng chì và nấm mộ, đó là sự ôm nhau và những cái hôn. Nhưng mà chiếc cầu này không trụ được, nếu như không có hình thức cấp thiết đáp ứng. Kích thước câu dòng biến đổi không nhận biết và cấp cho sự cuồng nhiệt của nó một trọng lượng đặc biệt. Nhịp điệu bay bổng của khổ thứ nhất kết thúc thực nặng như mộ phần.

Nghệ thuật lớn của bài thơ nhỏ này nằm ở chỗ cho phép ta đọc như sự sắp xếp tuần tự một cách phi nghệ thuật các câu cùng hệ, hối thúc bởi một cùng quẫn lớn và một hy vọng lớn. Sự kết thúc của thế giới ở phía trước, nhưng chúng ta vẫn còn cơ hội của tình yêu. Sự cùng quẫn là cùng quẫn của nhân loại, và cơ may là một thứ hoàn toàn thầm kín. Cơ may đó thực hiện trong cái Anh:

Anh ơi, ta muốn hôn nhau nồng nàn…

Và cũng như thế chúng ta sống ngày hôm nay vâng, một trăm năm sau: bị săn đuổi bởi những ảnh hình hồng thủy thường xuyên đón nhận từ các phương tiện truyền thông, dựng lại (hy vọng thế) trong thoáng gần gũi tràn đầy tình yêu. Nhưng với cái đó bài thơ không dừng lại, mà là:

Một nỗi nhớ nhung gõ cửa trần gian
Vì lẽ đó chúng ta phải chết.

Đây đó lại về cái mới, cả hai thái cực : Phải chết và nỗi nhớ nhung cuộc đời được sống thực sự.

„Tận thế“ là một bài thơ thống thiết tới đường lằn ranh của chịu đựng, và chúng ta vui lòng chịu đựng bài thơ đó, nguyên nỗi riêng nằm ở cái âm hưởng vui-buồn, tối-sáng này của Else Lasker-Schüler. Hẳn thế bà là nữ thi sĩ Đức quan trọng nhất. Trong mọi trường hợp bất luận, „Tận thế“ của bà gần gụi với chúng ta hơn là bài thơ „Tận thế“ được viết bảy năm sau đó thường được trích dẫn của nhà thơ Jakob van Hoddis cũng mang tầm vóc lớn như vậy:

Kia người thị dân mũ bay khỏi cái đầu nhọn!

Với Else Lasker- Schüler sự thể không còn xoay quanh chiếc mũ nữa, mà là tất cả.

©® PhạmKỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức 

Nguồn: Ulrich Greiner, aus Marcel Reich-Ranicki (Hrsg.): Frankfurter Anthologie. Vierunddreißigster Band, Insel Verlag, 2011

TẬN THẾ

Else Lasker-Schüler (1869-1945)

Có một tiếng khóc trên thế giới
như thể Thượng đế yêu từ trần,
và sập bóng chì đen đè xuống
nặng tựa mộ phần

Nào! Ta muốn sát nhau hơn ẩn náu.
Cuộc đời ở trong tim mọi người
như trong quan tài.

Anh ơi, chúng mình muốn hôn nhau nồng nàn -
Một nỗi nhớ nhung gõ cửa trần gian
Vì lẽ đó chúng ta phải chết.

Nguyên tác tiếng Đức:

WELTENDE

Else Lasker-Schüler (1869-1945)

Es ist ein Weinen in der Welt,
Als ob der liebe Gott gestorben wär,
Und der bleierne Schatten, der niederfällt,
Lastet grabesschwer.

Komm, wir wollen uns näher verbergen…
Das Leben liegt in aller Herzen
Wie in Särgen.

Du! wir wollen uns tief küssen –
Es pocht eine Sehnsucht an die Welt,
An der wir sterben müssen.

Chú thích của người dịch:
Ulrich Greiner (sinh năm 1945): Nhà báo và nhà phê bình văn học người Đức.

Else Lasker-Schüler (tên khai sinh Elisabeth Lasker-Schüler; * sinh ngày 11.02 1869 tại Elberfeld, nay là Wuppertal; † 22. 01 1945 tại Jerusalem), nữ thi sĩ lớn thế kỷ 20, người Đức gốc Do thái, đại diện kiệt xuất của trường phái Hiện đại tiền phong và của Chủ nghĩa Biểu hiện trong văn chương.

Tranh của Ernst Ludwig Kirchner (1880-1937): Họa sĩ, nhà đồ họa, đại diện hàng đầu của Chủ nghĩa Biểu hiện (Expressionism) Đức, sáng lập viên nhóm Cây cầu (Brücke). Năm 1937 bị chế độ Quốc xã đấu tố xếp vào nghệ thuật suy đồi, bán và hủy 600 tác phẩm, một năm sau ông dùng súng tự sát.

Thứ Sáu, 17 tháng 9, 2021

An ủi

Theodor Fontane (1819 – 1898)   




Hãy tự an ủi mình, giờ khắc vội,
Và mặc những gì đè nặng lòng anh,
Giờ tệ nhất cũng không thể nán quanh,
Và rồi đó một ngày khác đến.

Trong cái đến và đi miên viễn
Có nỗi đau có hạnh phúc xen kề,
Và cả những ảnh hình rạng rỡ
Hướng tới anh cũng tìm lối trở về.

Hãy hy vọng, kiên gan. Tiếng đập
từng giờ, anh đếm chẳng hoài hơi:
Đổi thay là vận hạn của cuộc đời,
Và rồi đó một ngày khác đến.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức

Trost

Theodor Fontane (1819 – 1898)

Tröste dich, die Stunden eilen,
Und was all dich drücken mag,
Auch die schlimmste kann nicht weilen,
Und es kommt ein andrer Tag.

In dem ew'gen Kommen, Schwinden,
Wie der Schmerz liegt auch das Glück,
Und auch heitre Bilder finden
Ihren Weg zu dir zurück.

Harre, hoffe. Nicht vergebens
zählest du der Stunden Schlag:
Wechsel ist das Los des Lebens,
Und - es kommt ein andrer Tag.

Chú thích của người dịch:
Theodor Fontane (1819 – 1898): Nhà văn, nhà thơ, nhà báo và nhà phê bình, đại diện quan trọng của Chủ nghĩa Hiện thực thế kỷ 19.

Tranh của Carl Spitzweg (1808-1885): Họa sĩ Đức, có vị trí biệt lập trong hội họa.

Chủ Nhật, 12 tháng 9, 2021

Ba cánh cửa của lưu đày

Ruth Klüger    



Từ ba cánh cửa, cả ba được nhấn mạnh như từ vận đứng cuối từng câu thơ tương ứng, một cửa dẫn xuống dưới vào tầng hầm, cửa thứ hai lên cao vào cõi trời, và cửa thứ ba, „bàn phím “ nằm ở giữa hai cửa kia, trực tiếp dẫn tới cái Nơi đây và Hiện giờ bị giày vò của người lên tiếng không biết đi đâu với cuộc đời mình. Một sáng tạo từ mới ẩn hiện chỉ dẫn về giấc mơ và thời thơ ấu như cội nguồn của những ảnh hình này.

„Đàn dương cầm xanh của tôi“ ra đời tại Thụy Sĩ trước năm 1936, cuộc lưu vong đầu tiên của nữ thi sĩ và được xuất bản năm 1937 trong tờ nhật báo Paris, một tờ báo của những người tha hương Đức. Như vậy đó là một bài thơ về Lưu vong, không phải bài thơ về Chiến tranh và hoàn toàn không phải một bài thơ về Tận thiêu. Trong dạng thành sách bài thơ được xuất bản năm 1943 tại Jerusalem, thành phố nơi hai năm sau Else-Lasker-Schüler mất trước khi chiến tranh kết thúc. Bà cũng không được ở nhà nơi đó – bà sống trong lưu vong, không phải trong chế độ nhập cư. Ở nhà – đó là một địa phần, nơi một chiếc đàn dương cầm xanh đứng đó.

Tại sao màu xanh? Thuộc về lãnh địa của xanh dương là bầu trời, mùa xuân, hoa của trào Lãng mạn và Franz Marc người bạn quá cố thuộc nhóm Kỵ sĩ xanh của Lasker-Schüler. Ngược lại, đàn dương cầm chắc chắn không thuộc về nơi đó, bởi vì thường ra phần lớn chúng màu đen – ít ra đàn làm cho người lớn là như vậy. Nhưng ta thấy trong Nhật ký Zürich của Else Lasker-Schüler viết:
„Tôi vẫn còn giữ tất cả những món đồ chơi của tôi từ ngày xưa, cả chiếc đàn dương cầm xanh dành cho búp bê.“ Ở trong bài thơ, từ một hồi tưởng thơ ấu trở thành một nhạc cụ mang tính biểu tượng cho những bàn tay sao trời ở bên trên và những bàn chân chuột cống dưới đó. Nữ thi sĩ ở giữa không biết nốt nhạc. Như vậy không hề là nghệ thuật của riêng tư được đề cập tới ở đây, bởi vì đúng thế bà chế ngự nghệ thuật này. Bài thơ tiếc thương một mất mát vượt qua ranh giới cá nhân, mà tuy nhiên việc tưởng niệm này xảy ra theo một cung cách sao mà mang tính chủ quan đến mức nghe như một sự khóc than của một đứa trẻ bị hành hạ. Chúng ta mỉm cười về cái „bàn phím“, và nàng trăng trong thuyền bước ra từ truyện cổ tích hay đó là một mặt nạ của nữ tác giả đã thích thú vẽ trăng liềm vào những bút tích của mình. Có điều trong biến thể đầu tiên nàng trăng là một bé trăng. Trẻ thơ cũng là thao tác, nhân cách hóa một đồ vật đã tan vỡ và khóc thương nó như một người đàn bà màu xanh đã chết..

Bên trên tiếng khóc thút thít của trẻ thơ lơ lửng một tai họa lớn của „thế giới hung bạo“. Con người héo hắt và tuyệt vọng muốn trốn thoát ra khỏi thế giới tai họa này, và đi đâu cơ nếu không phải là lên trời? „Đàn dương cầm xanh của tôi“ tuy thế không phải là bài thơ về tự sát: Người nữ nói đã nài nỉ các thiên thần một cách phi lý rằng hãy mở cánh cổng trời cho bà khi còn đang sống. Bà xác chứng bản thân bằng „bánh mì cay đắng“ bà đã từng nếm vị. Có thể bánh đó được cắt ra từ chính chiếc bánh như „bánh mì thấm nước mắt“, thông qua đó người chơi đàn thụ cầm của Goethe (1) đã làm quen những thế lực nơi thượng giới.

Cái từ“ Điều cấm“ khiến bài thơ dần tắt làm ta giật thót mình. Những người chạy nạn đã từng biết những cánh cửa đóng kín nơi biên giới các nước. Bây giờ cần phải hủy bỏ ở đây một điều cấm nhập cảnh tối cao và bất biến. Liệu có động chạm tới một một sự gia tăng cuối cùng của những điều cấm nọ ở dưới trần gian? Những luật lệ nhập cư nghiêm ngặt có hiệu lực cũng thế đối với vương quốc triều thiên, và người nữ thỉnh nguyện uổng công nguyện cầu.

Người ta ngần ngại gọi một bài thơ rón rén thu mình lại và cất tiếng với một giọng nói than van, nhỏ nhẹ là „vĩ đại“. Và tuy nhiên bên cạnh bài thơ của Brecht „Gửi người hậu thế“ cũng ra đời từ những năm ba mươi, „Đàn dương cầm xanh của tôi“ đương nhiên là chứng chỉ thơ ca thuyết phục nhất về lưu vong thời Quốc xã. Ở đâu Brecht, một cách mạnh mẽ và nam nhi sục sôi đòi quyền căm hờn và trách nhiệm tranh đấu, nơi đó Lasker- Schüler tiếc than một nền văn minh đắm chìm bằng ngôn ngữ đặc thù khí chất của người cô đơn, với sự kết nối chỉ riêng bà có được giữa cuồng điên và khôi hài, trí tưởng và tự trình diễn giữ khoảng cách. Nơi nào Brecht, đứng ở bục diễn giả của công luận phán quyết sự cực khổ muôn bề về một tên gọi chung gọi là phản kháng, ở đó Else Lasker-Schüler đã biểu đạt trực quan bằng cách bà trình diễn cho chúng ta xem trong nhà hát mặt nạ của đau khổ riêng tư.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Nguồn: Ruth Klüger, aus Marcel Reich-Ranicki (Hrsg.): Frankfurter Anthologie. Einundzwanzigster Band, Insel Verlag, 1998

Đàn dương cầm xanh của tôi

Else Lasker-Schüler (1869 -1945)

Ở nhà tôi có chiếc đàn dương cầm
màu xanh, và tôi nào biết nốt ký âm.

Đàn nằm trong vách tối cửa hầm,
Từ dạo đó thế giới này hung bạo.

Bốn bàn tay sao trời chơi dạo
- Nàng mặt trăng đã hát ở trên thuyền -
Bây giờ lũ chuột nhảy múa lanh canh.

Bàn phím vỡ tan tành…
Tôi khóc người đàn bà chết màu xanh.

- Tôi từng ăn bánh mì cay đắng -
Dẫu cho vi phạm vào điều cấm,
Hỡi thiên thần hãy mở cho tôi
đang sống đây, cánh cửa lên trời.

Nguyên tác tiếng Đức

Mein blaues Klavier

Else Lasker-Schüler (1869 -1945)

Ich habe zu Hause ein blaues Klavier
Und kenne doch keine Note.

Es steht im Dunkel der Kellertür,
Seitdem die Welt verrohte.

Es spielen Sternenhände vier
– Die Mondfrau sang im Boote –
Nun tanzen die Ratten im Geklirr.

Zerbrochen ist die Klaviatur…
Ich beweine die blaue Tote.

Ach liebe Engel öffnet mir
– Ich aß vom bitteren Brote –
Mir lebend schon die Himmelstür –
Auch wider dem Verbote.

Chú thích của người dịch:
(1) Bài hát của người chơi đàn thụ cầm - Lied des Harfners – J. W Goethe.

Ruth Klüger (1931-2020) : Nhà nghiên cứu văn học, nhà văn người Áo-Mỹ, bà đã sống qua cuộc Tận thiêu (Holocaust)

Else Lasker-Schüler (tên khai sinh Elisabeth Lasker-Schüler; * sinh ngày 11.02 1869 tại Elberfeld, nay là Wuppertal; † 22. 01 1945 tại Jerusalem), nữ thi sĩ lớn thế kỷ 20, người Đức gốc Do thái, đại diện kiệt xuất của trường phái Hiện đại tiền phong và của Chủ nghĩa Biểu hiện trong văn chương.

Tranh của August Macke (1887-1914): họa sĩ Biểu hiện Đức, thuộc nhóm họa sĩ xung quanh tờ Kỵ sĩ xanh.

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2021

Một bài tình ca

Else Lasker-Schüler (1869 -1945)    




Hãy đến với em trong đêm - ta ngủ ôm riết lấy nhau.
Em rất mệt, cô đơn từ thức giấc.
Trong tối tinh mơ một con chim lạ đã hát,
Khi giấc mơ còn vật vã và giành giật với em.

Trước mọi suối nguồn hoa mở cánh xem
Và phối sắc màu của mắt em, hoa cúc bất tử…

Hãy đến với em trên đôi hài của bảy vì tinh tú
Đêm khuya gói ghém tình yêu vào ngôi lều của em.
Từ những cái rương trời bụi bặm những vầng trăng mọc lên.

Như hai con thú kỳ lạ, ta muốn nằm no nê tình ái
Trong bụi sậy cao, khuất sau thế giới này.

©® Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức:

Ein Liebeslied

Else Lasker-Schüler (1869 -1945)

Komm zu mir in der Nacht – wir schlafen engverschlungen.
Müde bin ich sehr, vom Wachen einsam.
Ein fremder Vogel hat in dunkler Frühe schon gesungen,
Als noch mein Traum mit sich und mir gerungen.

Es öffnen Blumen sich vor allen Quellen
Und färben sich mit deiner Augen Immortellen…

Komm zu mir in der Nacht auf Siebensternenschuhen
Und Liebe eingehüllt spät in mein Zelt.
Es steigen Monde aus verstaubten Himmelstruhen.

Wir wollen wie zwei seltene Tiere liebesruhen
Im hohen Rohre hinter dieser Welt.

Chú thích của người dịch:

Else Lasker-Schüler (tên khai sinh Elisabeth Lasker-Schüler; * sinh ngày 11.02 1869 tại Elberfeld, nay là Wuppertal; † 22. 01 1945 tại Jerusalem), nữ thi sĩ lớn thế kỷ 20, người Đức gốc Do thái, đại diện kiệt xuất của trường phái Hiện đại tiền phong và của Chủ nghĩa Biểu hiện trong văn chương.


Tranh của Ernst Ludwig Kirchner (1880-1937): Họa sĩ, nhà đồ họa, đại diện hàng đầu của Chủ nghĩa Biểu hiện (Expressionism) Đức, sáng lập viên nhóm Cây cầu (Brücke). Năm 1937 bị chế độ Quốc xã đấu tố xếp vào nghệ thuật suy đồi, bán và hủy 600 tác phẩm, một năm sau ông dùng súng tự sát.

Làm gì đây với Pushkin

Marcel Reich-Ranicki        Mới đây ông hứa nói cho chúng tôi nghe ít nhiều về Pushkin và Chekhov. Chúng tôi chờ đấy. Heinz Bode từ Leipzig ...